Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Khắc Hiếu;

Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1970; cư trú tại: khu phố P, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Kim M, sinh năm 1981; cư trú tại: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện về việc ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Anh và chị Huỳnh Thị Kim M tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, hai bên có xảy ra đánh nhau và mâu thuẫn về vấn đề tài chính; chị M không quan tâm đến chồng và không có trách nhiệm với gia đình chồng; mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào ngày cuối năm tết âm lịch 2024, vợ chồng vẫn còn sống chung nhưng như là sống ly thân. Nay, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Huỳnh Thị Kim M.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phú T, sinh ngày 27/11/2020; con hiện đang ở với vợ chồng tại Phường I, thành phố T. Ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.

Bị đơn chị Huỳnh Thị Kim M đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

Do vắng mặt bị đơn nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định theo các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là không thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2020, được Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung với nhau đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên anh H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Phú T cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn chị M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên không xem xét. Nguyên đơn và bị đơn chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Huỳnh Thị Kim M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H và bị đơn chị Huỳnh Thị Kim M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, nguyên đơn và bị đơn sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Nay nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn.

Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn mặc dù không sống ly thân nhưng không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau là không thực hiện đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng dẫn đến hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

  1. Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có một con chung là cháu Nguyễn Phú T, sinh ngày 27/11/2020, hiện nay vẫn đang sống cùng nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có ý kiến trình bày không đồng ý với cách nuôi con của bị đơn Đối với bị đơn, Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng không đến nên không thể ghi nhận bị đơn có ý kiến như thế nào về việc nuôi con. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con là phù hợp và đúng quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Huỳnh Thị Kim M.
  2. Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Phú T, sinh ngày 27/11/2020 cho nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn chị Huỳnh Thị Kim M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng; thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 7/2025 cho đến khi phát sinh một trong các điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  3. Bị đơn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai số 0002924 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn chị Huỳnh Thị Kim M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - UBND P2, TP. Tuy Hoà;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Khánh Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: A H yêu cầu ly hôn với chị M và giải quyết việc nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger