TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2025. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 399/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phùng Khắc T, sinh năm: 1968; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1968; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông T và bà D có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Phùng Khắc T trình bày: Ngày 11/10/1988 ông và bà D về chung sống với nhau, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân tại xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sinh sống cùng với bố mẹ tại thôn B, xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội, đến năm 1994 thì chuyển vào sinh sống tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Sau khi kết hôn về sống chung với nhau cuộc sống vợ chồng ông diễn ra hòa thuận, hạnh phúc; thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2001 thì vợ chồng ông xảy ra rất nhiều bất hòa, cãi nhau rất thường xuyên. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống không hòa hợp nên đời sống vợ chồng không hòa thuận, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù cả hai bên cũng đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khí gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏi kéo dài nên vợ chồng ông đã sống ly thân từ năm 2010.
Nay ông T xác định, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.
Về con chung: Vợ chồng ông có 02 người con chung là Phùng Thị X, sinh năm 1988 và Phùng Khắc N, sinh năm 1995. Hiện nay các con đều đã đủ tuổi trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên khi ly hôn ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T xác định, quá trình chung sống ông và bà D có tạo lập được tài sản chung là diện tích đất 10.532m² thuộc thửa đất số 100, tờ bản đồ số 22 đất tọa lạc tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cùng tài sản trên đất. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 035007 ngày 09/7/1998 đứng tên hộ ông Phùng Khắc T. Do đó, khi ly hôn ông yêu cầu Tòa án tiến hành phân chia diện tích đất trên cho 04 thành viên trong hộ gia đình gồm ông, bà D và 02 người con, mỗi người được hưởng ¼ quyền sử dụng đất bằng hiện vật tương ứng với diện tích đất 2633m² (trong đó bao gồm 100m² đất ở nông thôn). Tuy nhiên, đến ngày 20/5/2025 ông Phùng Khắc T có đơn xin rút yêu cầu chia tài chung để vợ chồng tự thỏa thuận với nhau, ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng ông có nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh L số tiền là: 600.000.000đồng. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng ông đã trả hết nợ cho Ngân hàng nên ông không yêu cầu Tòa án xét xét giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: Ngày 11/10/1988 bà và ông T về chung sống với nhau, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và đăng kí kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống cùng với bố mẹ chồng tại thôn B, xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội, đến năm 1994 thì chuyển vào sinh sống tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Sau khi kết hôn về sống chung với nhau cuộc sống vợ chồng bà diễn ra hòa thuận, hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2001 thì vợ chồng bà xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau rất thường xuyên. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về tính cách, lối sống, nên vợ chồng phát sinh nhiều bất hòa, không tìm được tiếng nói chung, không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng bà cũng đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng đều không được, không khí gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏi nên bà và ông T đã quyết định sống ly thân từ năm 2010. Nay ông T yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 người con chung là Phùng Thị X, sinh năm 1988 và Phùng Khắc N, sinh năm 1995. Hiện nay các con đều đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên khi ly hôn bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng bà có tạo lập được tài sản chung là diện tích đất 10.532m² thuộc thửa đất số 100, tờ bản đồ số 22 đất tọa lạc tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cùng tài sản trên đất. Khi ly hôn ông T yêu cầu Tòa án tiến hành phân chia diện tích đất trên cho 04 thành viên trong hộ gia đình, mỗi người được hưởng ¼ quyền sử dụng đất bằng hiện vật tương ứng với diện tích đất 2633m² (trong đó bao gồm 100m² đất ở nông thôn) thì bà đồng ý. Ngoài ra bà D không có tranh chấp hay yêu cầu gì về tài sản.
Về nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh L số tiền là 600.000.000đồng. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng bà đã giải quyết xong về phần nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không được do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của ông T, xử cho ông T và bà D được ly hôn.
Về con chung: Cả ông T và bà D đều xác định, quá trình chung sống ông T và bà D có 02 người con chung là Phùng Thị X, sinh năm 1988 và Phùng Khắc N, sinh năm 1995. Hiện nay các con đều đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường. Khi ly hôn ông T và bà D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Ông T có đơn xin rút yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này của ông T. Còn bà D không có tranh chấp hay yêu cầu giải quyết về tài sản chung mà để vợ chồng tự thoả thuận giải quyết với nhau nên không đặt ra để xem xét, giải quyết. Nếu sau này các bên đương sự phát sinh tranh chấp và có đơn khởi kiện thì sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Cả ông T và bà D đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng ông bà có nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh L số tiền là 600.000.000đồng. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng ông ông T, bà D đã trả nợ xong cho Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đồng thời, Ngân hàng N1 - Chi nhánh L có văn bản xác định vợ chồng ông T, bà D trả trả xong nợ cho Ngân hàng và Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc ông Phùng Khắc T phải chịu án phí sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông T và bị đơn bà D vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phùng Khắc T và bà Nguyễn Thị D xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân tại xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội vào ngày 11/10/1988 nên quan hệ hôn nhân của ông T và bà D là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của ông T thì thấy rằng: Quá trình chung sống giữa ông T và bà D có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đời sống chung vợ chồng không hòa hợp. Mặc dù cả hai đều đã cố gắng nhưng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được nên ông T và bà D đã tự sống ly thân với nhau từ năm 2010 cho đến nay. Mặc dù thời gian sống ly thân đã lâu nhưng đến nay cả hai đều không có biện pháp cải thiện tình cảm vợ chồng mà cùng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu ly hôn thì bà D đồng ý. Do vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của ông T, xử cho ông T và bà D được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: Cả ông T và bà D đều xác định quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung là Phùng Thị X, sinh năm 1988 và Phùng Khắc N, sinh năm 1995. Hiện nay các con đều đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường; các con đã có gia đình riêng ổn định nên khi ly hôn ông T và bà D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Ông T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng ông có tạo lập được tài sản chung là diện tích đất 10.532m² thuộc thửa số 100, tờ bản đồ số 22 đất tọa lạc tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (trong đó có 400m² đất ở nông thôn và 10.132m² đất trồng cây lâu năm). Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 035007 ngày 09/7/1998 đứng tên hộ ông Phùng Khắc T. Trên đất có trồng cây cà phê và 01 cái ao diện tích khoảng 300m². Vì diện tích đất trên được cấp cho hộ gia đình ông Phùng Khắc T từ năm 1998, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình ông bao gồm 04 người là ông (Phùng Khắc T), bà Nguyễn Thị D, con Phùng Thị X và con Phùng Khắc N. Do đó, khi ly hôn ông đề nghị Tòa án tiến hành phân chia diện tích đất trên cho 04 thành viên trong hộ gia đình, mỗi người được hưởng ¼ quyền sử dụng đất bằng hiện vật tương ứng với diện tích đất 2633m² (trong đó bao gồm 100m² đất ở nông thôn). Tuy nhiên, đến ngày 20/5/2025 ông Phùng Khắc T có đơn xin rút yêu cầu chia tài chung để vợ chồng tự thỏa thuận với nhau ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Còn bà D xác định không tranh chấp về tài sản với ông T. Vì vậy, cần đình chỉ yêu cầu của ông T về việc yêu cầu chia tài sản chung là phù hợp. Trường hợp sau này các bên có phát sinh tranh chấp và yêu cầu khởi kiện thì sẽ được Tòa án xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[5]. Về nợ chung: Cả ông T và bà D đều xác định, quá trình chung sống vợ chồng ông bà có nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh L số tiền là 600.000.000đồng. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng ông T, bà D đã trả nợ xong cho Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đồng thời, Ngân hàng N1 - Chi nhánh L có văn bản xác định vợ chồng ông T, bà D đã trả xong nợ cho Ngân hàng và Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc ông Phùng Khắc T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Phùng Khắc T, xử cho ông Phùng Khắc T và bà Nguyễn Thị D được ly hôn.
- Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của ông Phùng Khắc T.
- Về án phí: Buộc ông Phùng Khắc T phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0005223 ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Hoàn trả cho ông Phùng Khắc T số tiền 18.000.000đồng (Mười tám triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng về ly hôn
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thắng - Dung ly hôn
