|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-02-2025
V/v: ly hôn, nuôi con chung giữa
chị Phan Thị Thu Hương và anh
Trần Mạnh Tùng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành
Bà Trịnh Thị Kim Cúc.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án của Tòa án
nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu H, sinh năm 1992; Nơi đăng ký thường trú: Số B đường Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số E đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Số định danh cá nhân: 001192034963. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Mạnh T, sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: Số B đường Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số E đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Số định danh cá nhân: 036087021807. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 20-09-2024, Bản tự khai ngày 09-12-2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phan Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Mạnh T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (phường B cũ), phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 17-11-2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống không hoà thuận, có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T cờ bạc, vũ phu. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không con nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Mạnh T.
Về con chung: Chị H và anh T hiện có 01 con chung là cháu Trần Tùng B, sinh ngày 20-01-2011, giới tính: Nam. Hiện cháu B đang ở cùng chị H. Chị H có nguyện vọng, nếu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh T thì chị được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H có quan điểm nếu chị được giao trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B thì anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Bị đơn là anh Trần Mạnh T đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án, nhưng anh T không đến làm việc nên không có quan điểm để giải quyết.
3. Kết quả xác minh ngày 12-11-2024 của Toà án tại địa phương chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T cư trú xác nhận: Anh Trần Mạnh T và chị Phan Thị Thu H hiện đang thuê nhà và cư trú tại địa chỉ: Số E đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định cùng với con là Trần Tùng B nhưng không có đăng ký thường trú. Về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn của chị H và anh T thì địa phương không nắm được.
4. Kết quả xác minh ngày 13-11-2024 của Toà án tại nơi chị Phan Thị Thu H và anh Trần Tùng B đăng ký thường trú xác nhận: Chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T có đăng ký thường trú tại địa chỉ: số B đường Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, tuy nhiên, chị H và anh T đã bán nhà chuyển đi nơi khác sinh sống từ đầu năm 2021. Về quan hệ hôn nhân của chị H và anh T thì địa phương không nắm được.
5. Tại Biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 10-12-2024, cháu Trần Tùng B nêu nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ.
6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án
thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh T chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Về con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung là cháu Trần Tùng B, sinh ngày 20-01-2011 cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung, chị H không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm, nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Phan Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh Trần Mạnh T. Xét thấy, tranh chấp giữa chị H và anh T là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Trần Mạnh T đăng ký thường trú tại địa chỉ số B đường Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; và cư trú tại địa chỉ: Số E đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
[1.3] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Phan Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Trần Mạnh T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh T.
[2] Về nội dung vụ án.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 17-11-2010 tại Uỷ ban nhân dân (phường B cũ), phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị không hoà thuận, có nhiều mâu thuẫn. Chị H và anh T đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải tạo điều kiện để hai bên đoàn tụ nhưng anh T vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được, và chị H có ý kiến giữ nguyên quan điểm đề nghị giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Mạnh T.
Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T hiện đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị H và anh T hiện có 01 con chung là cháu Trần Tùng B, sinh ngày 20-01-2011, giới tính: Nam.
Xét thấy, chị Phan Thị Thu H có quan điểm được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Từ khi chị H và anh T sống ly thân, cháu B đã ở với mẹ và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ có ly hôn. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, anh T đều vắng mặt không có lý do, không có quan điểm gì về việc nuôi dưỡng con chung.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cho chị Phan Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Trần Tùng B.
Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị Phan Thị Thu H không yêu cầu anh Trần Mạnh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn là chị Phan Thị Thu H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Phan Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Trần Tùng B, sinh ngày 20-01-2011, giới tính: Nam; Số định danh cá nhân: 036211017639.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chấp nhận quan điểm của chị Phan Thị Thu H không yêu cầu anh Trần Mạnh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Phan Thị Thu H.
Anh Trần Mạnh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phan Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) chị Phan Thị Thu H đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002422 ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thu H và anh Trần Mạnh T. 2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Phan Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Trần Tùng B, sinh ngày 20-01-2011, giới tính: Nam.
