|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST Ngày 13-6-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chi
Ông Nguyễn Văn Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Ấp X, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Z, Y, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số C B, Đại Lộ T, thôn B, thị trấn H, huyện V, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
(Bà Nguyễn Thị Diễm T, ông Z, Y có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Zhang Y kết hôn với nhau vào ngày 26/3/2024, hôn nhân tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37/UBH.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được khoảng 1 thời gian, tuy nhiên, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, cuộc sống giữa hai người luôn bất đồng, thường xuyên xung đột và đã ly thân từ đó cho đến nay. Mặc dù, cả hai đã cố gắng để hàn gắn để duy trì tiếp tục cuộc sống vợ chồng nhưng vẫn không thể khắc phục, không thay đổi mà trái lại mâu thuẫn vợ chồng càng thêm trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài được nên bà làm đơn ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Z, Y không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Z, Y trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Diễm T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 26/3/2024 và được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/UBH.
Sau khi kết hôn ông và bà T chung sống hạnh phúc được một thời gian; sau đó, ông và bà T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Ông và bà T sống ly thân từ cuối năm 2024. Nay bà T làm đơn yêu cầu xin ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Vụ việc không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm T và bị đơn ông Z, Y có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm T và ông Z, Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 34, ngày 26/3/2024, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay, bà Nguyễn Thị Diễm T xin ly hôn, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết là có căn cứ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống của bà Nguyễn Thị Diễm T và ông Z, Y sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó ông Z, Yan và bà T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng trong quan hệ vợ chồng. Hiện vợ, chồng sống xa cách nhau về vị trí địa lý, bất đồng về quan điểm sống cũng như không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình thu thập chứng cứ ông Z, Y cũng xác định tình cảm của hai bên không còn, hai người thường xuyên mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, đồng thời anh cũng đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm T.
Xét thấy, hiện nay tình cảm giữa bà Nguyễn Thị Diễm T và ông Z, Y không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận với yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm T đối với ông Z, Y.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Diễm T và ông Z, Y xác định không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn khai không có nợ chung, tài sản chung nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 37, 228, 238, 464, 469, 476, 478, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 53, 56, 122, 123, 127, 131 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm T với bị đơn ông Z, Y. Xử cho bà Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn đối với ông Z, Y.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001228 ngày 11/02/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Diễm T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Ông Z, Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Tr yêu cầu được ly hôn với ông Antony
