TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/6/2025
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chau Rót Tha.
- Ông Mai Văn Tài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà: Không tham gia.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 156/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 78/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Néang Chanh L, sinh năm 2002; CCCD số: 08930200285; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Chau C, sinh năm 2002; địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2025 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Néang Chanh L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Néang Chanh L và anh Chau C do tự tìm hiểu nhau một thời gian và tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C vào năm 2023. Quá trình chung sống anh chị thường xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xảy cự cãi, gây gổ. Ngoài ra, anh C thường xuyên ăn chơi, không chú tâm làm ăn lo cho cuộc sống gia đình. Do đó, chị L nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài nên chị N Chanh Ly yêu cầu được ly hôn với anh Chau C.Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L và anh Chau C không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Chau C trình bày:
Anh Chau C thống nhất về thời gian, điều kiện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn mà chị L căn cứ yêu cầu ly hôn với anh C. Tuy nhiên, anh C không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L, bởi vì anh C còn rất yêu thương chị L và anh cam kết sẽ sửa đổi những lỗi lầm trước đây, bản thân hiện cũng đã làm và nộp hồ sơ để xin việc kiếm thêm nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống, bản thân trước đây chẳng qua do buồn bực vì ghen tuông chị L với người khác nên từ những nguyên nhân trên mong Tòa án xem xét cho anh và chị L được đoàn tụ vợ chồng.
Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Chau C vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn chị Néang Chanh L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn Chau Chương. Vậy, Toà án xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn; bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Chau C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có ly do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Chị Néang Chanh L tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 10/2023, ngày 12/01/2023 là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh C là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L đối với anh C: Chị L cho cho rằng nguyên mẫu thuẩn giữa chị L và anh C do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, ngoài ra anh C hay ăn chơi, không lo làm ăn để lo cho cuộc sống gia đinh nên chị yêu cầu ly hôn với anh C. Anh Chương thừa nhận có mâu thuẩn như chị L trình bày nhưng chị L yêu cầu ly hôn anh không đồng ý. Bởi vì, anh còn rất yêu thương chị L và anh C cam kết sửa chữa những lỗi lầm trước đây nên mong chị L cho anh thêm cơ hội để có thời gian sửa sai.
HĐXX xét thấy, chị L kiên quyết ly hôn với anh C và không còn tình nghĩa vợ chồng, mâu thuẫn kéo dài, ngày càng trầm trọng. Mặc dù, anh C có nhận lỗi và cam kết sửa chữa những lỗi lầm trước nhưng chị L vẫn không mong muốn đoàn tụ. Từ những nguyên nhân, cơ sở trên hôn nhân giữa chị L và và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trong không, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị L yêu cầu ly hôn với anh C là có căn cứ chấp nhận nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu câu ly hôn của chị L đối với anh C.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung:
Chị L, anh C xác nhận không có không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí:
Chị Néang Chanh L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Néang Chanh L đối với anh Chau C.
- Về án phí: Chị Néang Chanh L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0013056 ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chau Dau |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ly yêu cầu ly hôn với ông
