Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:54/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/3/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng.

Ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, Thông báo hoãn phiên toà số: 170/2024/TB-TA ngày 12/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2025 và Thông báo mở lại phiên toà số 01/TB-TA ngày 14/02/2025, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tất T, sinh năm 1974, Có mặt.

Nơi đăng ký thường trú: Đội 05, thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.

+ Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1976, Vắng mặt.

Nơi đăng ký thường trú: Đội 05, thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị Nguyễn Thị N: bà Dương Thị H – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, Có mặt.

Địa chỉ: Số nhà E, ngõ A T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ hiện tại: Số H đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Tất T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N lấy nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 21/7/1994 tại UBND xã L. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm ăn ở thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Khoảng nhiều năm trở lại đây vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng nhất là từ đầu năm 2023 đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống, thường xuyên xảy ra va chạm, xung đột, cãi vã. Anh đã tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Anh đã có lần nộp đơn đề nghị toà án giải quyết nhưng sau đó toà án đã đình chỉ giải quyết vụ án nhưng vợ chồng không cải thiện được tình cảm nên anh đã nộp lại đơn ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án hòa giải anh và chị N thống nhất thuận tình ly hôn, sau đó vợ chồng lại thay đổi ý kiến. Nay chị N vắng mặt tại phiên tòa, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị Nguyễn Thị N.

- Về con chung: Anh và chị N có 03 con chung là: Nguyễn Thị T1, sinh ngày 20/5/1995; Nguyễn Thị Bảo Y, sinh ngày 26/9/2005 và Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012. Hiện nay cháu T1 và Y đã trưởng thành lấy chồng và có gia đình riêng, còn cháu P chưa thành niên. Tòa án hòa giải anh và chị N thống nhất thoả thuận anh nuôi cháu P và chị N cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng để anh nuôi con, sau đó vợ chồng lại thay đổi ý kiến. Tại phiên toà do chị N vắng mặt nên anh đề nghị xin nuôi cháu P và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Khi khởi kiện anh không yêu cầu và trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án hòa giải anh và chị N thống nhất thoả thuận về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết, sau đó vợ chồng lại thay đổi ý kiến. Anh yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng với số tiền 80.000.000đồng chị N gửi tại Ngân hàng gồm: là 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067847 số tiền 70.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N và 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067848 số tiền 10.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N. Tại phiên tòa do chị N vắng mặt nên anh không yêu cầu toà án giải quyết chia tài sản chung và để vợ chồng giải quyết chia tài sản chung trong vụ án khác và xin lại tiền tạm ứng án phí anh đã nộp.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên toà, quá trình giải quyết vụ án chị N và anh T thống nhất thuận tình ly hôn và thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng sau đó vợ chồng lại thay đổi quan điểm, cụ thể:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị nhất trí với ý kiến của anh Nguyễn Tất T về thời điểm kết hôn, thời điểm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn và thời điểm vợ chồng sống ly thân là đúng. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chung sống không mang lại hạnh phúc cho nhau, không thể hàn gắn được nữa nên chị đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tất T.

- Về con chung: Chị cũng xác nhận vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 20/5/1995; Nguyễn Thị Bảo Y, sinh ngày 26/9/2005 và cháu Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012. Hiện nay cháu T1 và Y đã trưởng thành, có gia đình, có sức khỏe tốt và cuộc sống riêng nên không đề nghị giải quyết, còn cháu P chưa thành niên ở cùng với hai vợ chồng. Ly hôn chị đồng ý giao cháu P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho anh T số tiền 1.500.000 đồng/tháng, kể từ ngày hai vợ chồng ly hôn.

- Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết tòa án hòa giải chị và anh T thống nhất tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành hòa giải và lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 28/5/2024, đến ngày 31/5/2024 bị đơn chị Nguyễn Thị N làm đơn gửi tòa án xin thay đổi ý kiến đối với sự thỏa thuận về tài sản chung, đề nghị được thay đổi như sau:

1. Lý do anh Nguyễn Tất T không thực hiện thoả thuận về tài sản với chị đề nghị toà án phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng theo quy định của pháp luật đối với Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số: Ô 13; tại địa chỉ: Khu A, xã L, huyện M, tỉnh Hà Tây giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện M cấp ngày 31/7/2008 đứng tên anh Nguyễn Tất T và Nhà xây trên thửa đất thửa đất số: 64; tờ bản đồ số: 19 (Năm 2010); diện tích: 205,2m²; tại địa chỉ: thôn Á, xã L, huyện M, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 445113; số vào sổ cấp GCN: 45717 do UBND huyện M cấp ngày 29/9/2014 đứng tên anh Nguyễn Tất T.

Do chị N có đơn xin thay đổi việc yêu cầu chia tài sản chung, thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận ngày 28/5/2024. Đồng thời anh Nguyễn Tất T cũng không đồng ý với sự thay đổi của chị N, nên Tòa án không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Ngày 04/6/2024 Toà án ra Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 21 ngày 04/6/2024 đối với chị N cung cấp, giao nộp cho toà án tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu chia tài sản chung.

Ngày 18/6/2024 chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gồm:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số: Ô 13; tờ bản đồ số: Sơ đồ phân lô khu đấu giá QSD đất; diện tích: 85m²; tại địa chỉ: Khu A, xã L, huyện M, tỉnh Hà Tây (Nay là thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: AL 819748, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H: 32174 do UBND huyện M cấp ngày 31/7/2008 đứng tên anh Nguyễn Tất T.

- Nhà xây trên thửa đất thửa đất số: 64; tờ bản đồ số: 19 (Năm 2010); diện tích: 205,2m²; tại địa chỉ: thôn Á, xã L, huyện M, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 445113; số vào sổ cấp GCN: 45717 do UBND huyện M cấp ngày 29/9/2014 đứng tên ông Nguyễn Tất T.

- 02 Điều hòa trị giá khoảng hơn 20.000.000đồng

- 01 Bộ bàn ghế gỗ lúc mua 27.000.000đồng

- 01 Sổ tiết kiệm tại ngân hàng bà Đ – Huyện H khoảng hơn 10 năm trước là 20.000.000 đồng.

- 01 chiếc Tivi trị giá khi mua khoảng 15.000.000đồng

Ngày 18/6/2024 Toà án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án và ngày 24/6/2024 thụ lý yêu cầu phản tố chia tài sản chung vợ chồng của của chị Nguyễn Thị N.

Ngày 08/7/2024, anh Nguyễn Tất T có văn bản trình bày ý kiến: Anh thừa nhận vợ chồng có các khối tài sản chung gồm:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số: Ô 13; tờ bản đồ số: Sơ đồ phân lô khu đấu giá QSD đất; diện tích: 85m²; tại địa chỉ: Khu A, xã L, huyện M, tỉnh Hà Tây (Nay là Tp Hà Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: AL 819748, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H: 32174 do UBND huyện M cấp ngày 31/7/2008 đứng tên anh là Nguyễn Tất T.

- Nhà xây trên thửa đất thửa đất số: 64; tờ bản đồ số: 19 (Năm 2010); diện tích: 205,2m²; tại địa chỉ: thôn Á, xã L, huyện M, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 445113; số vào sổ cấp GCN: 45717 do UBND huyện M cấp ngày 29/9/2014 đứng tên anh Nguyễn Tất T. Đất anh được bố mẹ tăng cho riêng.

- 01 điều hoà và 01 bộ bàn ghế gỗ.

Đối với các tài sản khác do anh vay tiền mua riêng khi vợ chồng sống ly thân nên là tài sản riêng của anh gồm: 01 điều hoà; 01 ti vi. Còn số tiền 20.000.000 đồng gửi tiết kiệm tại ngân hàng bà Đ – Huyện H khoảng hơn 10 năm trước không đúng với thực tế vì không có sổ tiết kiệm này.

Ngoài ra anh đề nghị toà án chia tài sản chung vợ chồng gồm 02 sổ tiết kiệm chị N gửi tại Ngân hàng gồm: 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067847 số tiền 70.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N (Có bản phô tô kèm theo); 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067848 số tiền 10.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N (Có bản phô tô kèm theo). Số tiền này chị N quản lý, sử dụng đến nay chị N đã rút ra hay chưa thì anh không biết nhưng số tiền này là tài sản chung của vợ chồng.

Đến ngày 03/7/2024 Tòa án tiến hành hòa giải và lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, anh T và chị N thống nhất: về quan hệ hôn nhân: thống nhất thuận tình ly hôn, về con chung: thống nhất thoả thuận anh T trực tiếp nuôi con và tài sản chung tự thoả thuận không không yêu cầu toà án giải quyết. Đến ngày 08/7/2024 bị đơn chị Nguyễn Thị N và nguyên đơn anh Nguyễn Tất T làm đơn gửi tòa án xin thay đổi ý kiến đối với sự thỏa thuận về tài sản chung.

Ngày 12/8/2024, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá tài sản:

- Nhà xây trên thửa đất thửa đất số: 64; tờ bản đồ số: 19 (Năm 2010); diện tích: 205,2m²; tại địa chỉ: thôn Á, xã L, huyện M, Hà Nội đo đạc thực tế: Sàn tầng 01 có diện tích 87,9m²; tầng 02 có diện tích 96,7m². Tổng diện tích nhà là 184,6m²; Sân lát gạch men có diện tích là 118,3m².

+ Tầng 01 xây dựng năm 2008, diện tích 87,9m²: Thời gian khấu hao là 16 năm x 4%/năm = 64%; Tỷ lệ hao mòn còn lại là: 36%; Đơn giá xây dựng là 6.163.000 đồng/m²; Giá trị tài sản còn lại là: 6.163.000 đồng/m² x 36% = 2.219.000 đồng/m2 x 87,9m² = 195.050.000 đồng.

+ Tầng 02 xây dựng năm 2011, diện tích 96,7m²: Thời gian khấu hao là 13 năm x 4%/năm = 52%; Tỷ lệ hao mòn còn lại là: 48%; Đơn giá xây dựng là 6.163.000 đồng/m²; Giá trị tài sản còn lại là: 6.163.000 đồng/m2 x 48% = 2.958.000 đồng/m2 x 96,7m² = 286.038.600 đồng.

+ Sân lát gạch xây dựng năm 2020, diện tích 118,3m²: Thời gian tính hao mòn là 4 năm, tỷ lệ hao mòn là 5%/năm; Tỷ lệ hao mòn còn lại là: 80%; Đơn giá xây dựng là 362.000 đồng/m²; Giá trị tài sản còn lại là: 362.000 đồng/m² x 80% = 289.600 đồng/m2 x 118,3m² = 34.201.760 đồng.

+ Đối với cổng ngõ xây dựng năm 2008, tường rào giáp ngõ đi và tường rào phía Tây đã hết khấu hao theo quy định nên không tiến hành định giá.

+ Điều hòa Panasonic sản suất tháng 3/2016: Thời gian tính hao mòn theo quy định là 08 năm. Tài sản đã hết khấu hao nên không tiến hành định giá.

+ Điều hòa Panasonic sản suất tháng 4/2018: Thời gian tính hao mòn theo quy định là 06 năm x 12,5%/năm. Tỷ lệ hao mòn còn lại là: 25%. Giá trị tài sản còn lại là: 2.500.000 đồng.

+ 01 Tivi Samsung sản suất tháng 02/2023: Thời gian tính hao mòn là 1,5 năm. Tỷ lệ hao mòn còn lại là: 100% - (1,5năm x 20% = 30%) = 70%. Giá trị tài sản còn lại là: 10.045.000 đồng.

+ 01 Bộ bàn ghế gỗ các đương sự thống nhất thỏa thuận giá trị là: 24.000.000 đồng.

Thửa đất số: Ô 13; tờ bản đồ số: Sơ đồ phân lô khu đấu giá QSD đất; diện tích: 85m²; tại địa chỉ: Khu A, xã L, huyện M, tỉnh Hà Tây (Nay là thành phố Hà Nội), đo đạc thực tế diện tích 85m².

+ Giá theo khung giá đất của Nhà nước quy định tại Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố H: Thửa đất thuộc vị trí 2 đường đê đáy đoạn qua xã L (trong đê) có giá: 1.158.000đồng/m² x 85m² = 98.430.000 đồng.

+ Giá theo Hội đồng định giá tài sản định giá là: 10.000.000đồng/m2 x 85m² = 850.000.000 đồng.

5

- Ngày 29/8/2024 Toà an tiến hành hoà giải anh T và chị N chỉ thống nhất với nhau về tài sản chung của vợ chồng, gồm:

+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số: Ô 13; tờ bản đồ số: Sơ đồ phân lô khu đấu giá QSD đất; diện tích: 85m²; tại địa chỉ: Khu A, xã L, huyện M, tỉnh Hà Tây (Nay là Tp Hà Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: AL 819748, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H: 32174 do UBND huyện M cấp ngày 31/7/2008 đứng tên anh Nguyễn Tất T.

+ Nhà xây trên thửa đất số: 64; tờ bản đồ số: 19 (Năm 2010); diện tích: 205,2m²; tại địa chỉ: thôn Á, xã L, huyện M, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BT 445113; số vào sổ cấp GCN: 45717 do UBND huyện M cấp ngày 29/9/2014 đứng tên anh Nguyễn Tất T.

+ 01 Bộ bàn ghế gỗ.

Còn lại đối với các tài sản là 02 điều hoà; 01 ti vi; 01 Sổ tiết kiệm 20.000.000 đồng gửi tại một ngần hàng ở trong B, huyện H, Tp Hồ Chí Minh; 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067847 số tiền 70.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N; 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067848 số tiền 10.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N không thống nhất được.

Ngày 15/10/2024 chị N đến toà án nộp đơn trình bày, với nội dung: Về quan hệ hôn nhân: chị N không đồng ý ly hôn và xin đoàn tụ để vợ chồng về chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012. Về tài sản chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết và rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, chị N đề nghị Tòa án cho chị xin lại tiền tạm ứng án phí. Chị đề nghị Tòa án trả lại toàn bộ hồ sơ ly hôn cho chị và đình chỉ giải quyết vụ án. Tòa án giải thích cho chị N về việc nguyên đơn khởi kiện trong vụ án là anh Nguyễn Tất T mới có quyền rút yêu cầu xin ly hôn, chị có quyền rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng nhưng chị N không nghe và không nộp đơn. Đồng thời chị N trình bày chị không đồng ý ly hôn, không đề nghị chia tài sản chung và không đến Tòa án làm việc nữa. Toà án triệu tập nhiều lần nhưng chị N không đến toà án để làm việc và không còn ở địa phương nữa.

Đối với anh Nguyễn Tất T trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 22/10/2024 và tại phiên toà: anh xác định tình cảm vợ chồng mâu thuẫn quá trầm trọng, không thể chung sống, hàn gắn và đoàn tụ được nữa nên anh đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị N. Anh không biết hiện nay chị N đi làm ở đâu, chỉ biết thỉnh thoảng có về nhà con gái lớn ở, còn từ tết đến giờ chị N không về nhà nữa. Về con chung: cháu Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012 chưa thành niên nay ly hôn thì anh xin nuôi cháu P, việc cấp dưỡng nuôi con thì sau này chị N về thì anh sẽ yêu cầu sau.

6

Về yêu cầu giải quyết tài sản chung, do chị N vắng mặt tại phiên tòa nên anh không cầu Tòa án giải quyết nữa và xin lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Sau này anh có yêu cầu thì sẽ nộp đơn giải quyết trong vụ án khác.

Đối với con gái là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Bảo Y, sinh năm 2005 đều trình bày: không liên quan đến việc bố mẹ ly hôn và không liên quan đến tài sản bố mẹ.

Đối với con Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012 chưa thành niên có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với anh T.

Luật sư Dương Thị H bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N trình bày: Hiện nay không liên lạc được với chị N do chị N không nghe điện thoại và nhắn tin không trả lời. Liên lạc với các anh chị ruột chị N cũng không biết chị N hiện nay đang đi làm ở đâu, chỉ biết chị về nhà con gái ở. Qua thông tin được chị N đến nay không đồng ý ly hôn và mong muốn đoàn tụ, chị không đề nghị tòa giải giải quyết tài sản chung vợ chồng nữa. Vì vậy: đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của anh Nguyễn Tất T đề nghị tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn đối với yêu cầu giải quyết tài sản chung của vợ chồng, chị N đã có đề nghị xin rút yêu cầu giải quyết tài sản chung và xin lại tiền tạm ứng án phí. Do chị N là nông dân thiếu hiểu biết và cũng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chị N nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của chị N và trả lại cho chị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tất T, xử: anh Nguyễn Tất T được ly hôn chị Nguyễn Thị N.

- Về con chung: Do vợ chồng anh T và chị N có 03 con chung là các cháu: Nguyễn Thị T1, sinh ngày 20/5/1995; Nguyễn Thị Bảo Y, sinh ngày 26/9/2005 và Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012. Hiện nay cháu T1 và Y đã trưởng thành lấy chồng và có gia đình riêng nên không xem xét việc nuôi dưỡng, còn cháu P chưa thành niên. Anh T xin nuôi cháu P và cháu P có nguyện vọng xin được ở với anh T nên đề nghị giao cháu P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung và nợ chung: Do anh T và chị N đều xin rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của anh T, chị N. Anh T và chị N có quyền khởi kiện trong vụ án khác.

- Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Tất T phải chịu án lý ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Nguyễn Tất T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn chị Nguyễn Thị N nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị N có đăng ký thường trú tại: thôn Á, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị N được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L vào ngày 21/7/1994 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến đánh cãi chửi nhau và đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án toà án tiến hành hoà giải nhiều lần anh T và chị N đã xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất thuận tình ly hôn. Sau đó vợ chồng thay đổi quan điểm yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng nhưng không thoả thuận được với nhau về việc phân chia tài sản. Đến ngày 15/10/2024 chị N đến toà án xin đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau chăm sóc con chung, xin rút yêu cầu chia tài sản và đề nghị toà án đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án và trả lại toàn bộ hồ sơ ly hôn cho chị. Toà án đã giải thích chị là bị đơn có quyền rút yêu cầu phản tố chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không có quyền rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên chị bỏ về và trình bày sẽ không ly hôn và không đến toà án để làm việc nữa. Toà án triệu tập và xác minh chị N không sinh sống cùng nhà với anh T và hiện nay đi nơi khác sinh sống. Xét đề nghị xin đoàn tụ của chị N là không có căn cứ và không có thiện trí nên xác định tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị N đã trầm trọng, cuộc sống mâu thuẫn kéo dài và không có khả năng đoàn tụ; vì lẽ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T đối với chị N và là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức.

[2]. Về con chung: Anh T và chị N có 03 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 20/5/1995; Nguyễn Thị Bảo Y, sinh ngày 26/9/2005 và Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012. Hiện nay cháu T1 và Y đã trưởng thành lấy chồng và có gia đình riêng nên không xem xét việc nuôi dưỡng, còn cháu P chưa thành niên.

Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012 chưa thành niên của anh Nguyễn Tất T, Hội đồng xét xử thấy: Cháu P hiện nay đang ở với anh T và do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Cháu P có đơn đề nghị thể hiện nguyện vọng xin được tiếp tục ở với anh T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của anh T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị N đến khi có yêu cầu thay đổi khác.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung:

* Đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của chị N đã được Hội đồng định giá xem xét và định giá gồm:

  • - Nhà xây trên thửa đất số: 64; tờ bản đồ số: 19 (Năm 2010):
  • + Tầng 01 xây dựng năm 2008, diện tích 87,9m²: Giá trị tài sản còn lại là: 195.050.000 đồng.
  • + Tầng 02 xây dựng năm 2011, diện tích 96,7m²: Giá trị tài sản còn lại là: 286.038.600 đồng.
  • + Sân lát gạch xây dựng năm 2020, diện tích 118,3m²: Giá trị tài sản còn lại là: 34.201.760 đồng.
  • + Điều hòa Panasonic sản suất tháng 4/2018: Giá trị tài sản còn lại là: 2.500.000 đồng.
  • + 01 Tivi Samsung sản suất tháng 02/2023: Giá trị tài sản còn lại là: 10.045.000 đồng.
  • + 01 Bộ bàn ghế gỗ các đương sự thống nhất thỏa thuận giá trị là: 24.000.000 đồng.
  • + Đối với cổng ngõ xây dựng năm 2008, tường rào giáp ngõ đi và tường rào phía Tây đã hết khấu hao theo quy định nên không tiến hành định giá.
  • + Điều hòa Panasonic sản suất tháng 3/2016: Thời gian tính hao mòn theo quy định là 08 năm. Tài sản đã hết khấu hao nên không tiến hành định giá.
  • Thửa đất số: Ô 13; tờ bản đồ số: Sơ đồ phân lô khu đấu giá QSD đất; tại địa chỉ: Khu A, xã L, huyện M, tỉnh Hà Tây (Nay là Tp Hà Nội) đo đạc thực tế diện tích 85m². Giá theo Hội đồng định giá tài sản định giá là: 10.000.000đồng/m2 x 85m² = 850.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản chung của hai vợ chồng được định giá là: 1.401.835.360đồng.

Do chị N vắng mặt tại phiên tòa và chị N đề nghị xin rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng và xin lại tiền tạm ứng án phí. Tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đình chỉ yêu cầu giải quyết chia tài sản chung của chị N do chị N xin rút yêu cầu và cho chị xin lại tiền tạm ứng án phí. Anh T cũng không đề nghị chia số tài sản chung trên do chị N vắng mặt tại phiên toà.

Vì vậy, Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố chia tài sản chung của bị đơn chị Nguyễn Thị N.

* Anh T có yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng đối với số tiền 80.000.000đồng chị N gửi tại hai sổ tiết kiệm: 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067847 số tiền 70.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N; 01 Sổ tiết kiện có kỳ hạn số: AC00026067848 số tiền 10.000.000 đồng ngày 08/02/2021 gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện M đứng tên chị Nguyễn Thị N. Tại phiên tòa anh T xin rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng và để sau này giải quyết trong vụ án khác khi anh hoặc chị N có yêu cầu.

Vì vậy, Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của anh Nguyễn Tất T yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đối với số tiền 80.000.000đồng.

Anh T và chị N có quyền khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.

[4]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ các điều 157, 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự chị N phải chịu chi phí tố tụng theo quy định. Bị đơn chị Nguyễn Thị N đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng 10.000.000 đồng. Tòa án đã chi phí cho việc xem xet thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo vẽ hiện trạng 02 thửa đất, đã chi phí hết 5.200.000đồng, số tiền tạm ứng còn thừa là 4.800.000đồng đã thanh toán trả cho đã trả lại cho bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1963 là chị gái ruột của chị Nguyễn Thị N nhận thay (Theo biên bản giao nhận tiền ngày 11/3/2025). Do chị N có yêu cầu và xin rút yêu cầu nên chị N phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng 5.200.000đồng (đã nộp và chi phí xong).

[5]. Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Tất T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền tạm ứng án phí đã nộp: Chị Nguyễn Thị N nộp số tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung của vợ chồng 23.000.000đồng và có ý kiến rút yêu cầu chia tài sản chung và xin lại tiền tạm ứng án phí nên trả lại cho chị N số tiền tạm ứng án phí trên. Anh Nguyễn Tất T nộp số tiền 2.000.000đồng và xin rút yêu cầu nên trả lại cho anh T số tiền nộp tạm ứng án phí trên.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

10

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Tất T đối với chị Nguyễn Thị N.

Xử anh Nguyễn Tất T được ly hôn chị Nguyễn Thị N

2. Về con chung: Xác nhận anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị N có 03 con chung là Nguyễn Thị T1, sinh ngày 20/5/1995; Nguyễn Thị Bảo Y, sinh ngày 26/9/2005 và Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012. Hiện nay cháu T1 và Y đã trưởng thành lấy chồng và có gia đình riêng nên không xem xét việc nuôi dưỡng, còn cháu P chưa thành niên.

Giao con chung Nguyễn Tất P, sinh ngày 20/01/2012 cho anh Nguyễn Tất T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị N đến khi có quyết định thay đổi khác.

Sau khi ly hôn Nở đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung:

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố chia tài sản chung của bị đơn chị Nguyễn Thị N.

Đình chỉ xét xử đối với chia tài sản chung của nguyên đơn anh Nguyễn Tất T.

Chị N và anh T có quyền khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.

5. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

6. Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 5.200.000đồng (đã nộp và chi phí xong).

7. Về án phí: Anh Nguyễn Tất T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007704 ngày 20/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Trả lại chị Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí 23.000.000đồng (Hai mươi ba triệu đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007949 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Trả lại anh Nguyễn Tất T số tiền tạm ứng án phí 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007974 ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

11

8. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn anh Nguyễn Tất T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Lê Thanh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger