|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 TỈNH BẮC NINH Bản án số: 54/2025/DS-ST Ngày: 30/9/2025 Về việc: “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hùng và ông Nguyễn Xuân Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Cường - Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Trần Thị Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2024/TLST-DS ngày 24/12/2024 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-DS ngày 15/4/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 02/2025/QĐST-DS, ngày 28/4/2025; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số: 02/2025/QĐST-DS, ngày 28/5/2025; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số: 28/2025/QĐST-DS, ngày 05/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2025/QĐST-DS, ngày 23/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh (có mặt). - Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Đều nơi cư trú: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh. - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: Xã L, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật là ông Lê Văn D - Chủ tịch UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo uỷ quyền của ông D: Ông Cao Phan T - Phó Phòng Kinh tế UBND xã L (vắng mặt).
- Ban quản lý thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh do ông Cao Duy K - Trưởng thôn làm đại diện (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966 (có mặt).
- Anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1991 (vắng mặt).
- Đều nơi cư trú: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà H2: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Đình H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H2 và người đại diện theo uỷ quyền của ông H bà H2 là bà Nguyễn Thị Ngọc Á thống nhất trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Đình H, bà Nguyễn Thị H2 và gia đình ông Nguyễn Xuân H1, bà Nguyễn Thị Đ là hàng xóm. Vợ chồng ông H bà H2 là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 132, tờ bản đồ số 22, diện tích 430m², địa chỉ: Thôn Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này có nguồn gốc là do Chính quyền thôn Q cấp đất ra Trại cho vợ chồng ông H bà H2 từ năm 1988. Năm 2005, vợ chồng ông H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Năm 2009, vợ chồng ông H1 bà Đ muốn tường bao để chắn mùi phân lợn của nhà ông H bà H2 bốc mùi sang; nhưng do phần đất ao mà vợ chồng ông H1 bà Đ san lấp nền đất yếu nên vợ chồng ông H1 bà Đ đã sang nhà ông H bà H2 nói chuyện về việc cho vợ chồng ông H1 bà Đ xây nhờ tường bao trên phần diện tích đất nhà ông H để chắn mùi phân lợn, khi nào gia đình ông H cần sử dụng đến thì vợ chồng ông H1 sẽ phá tường đi để trả lại phần diện tích đất cho gia đình ông H. Lúc đó, do phần diện tích đất giáp ranh của nhà ông H với nhà ông H1 còn để trống, chưa sử dụng đến, phần là vì hàng xóm láng giềng nên vợ chồng ông H đã đồng ý cho vợ chồng ông H1 mượn khoảng 6,2m² đất để vợ chồng H1 xây tường bao cao khoảng 3m trên diện tích đất của gia đình ông H.
Năm 2020, gia đình nhà ông H bà H2 đã xác định toàn bộ thửa đất trên và các công trình xây dựng trên đất là tài sản riêng của vợ chồng H nên gia đình ông H đã làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất. Ngày 13/10/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ 22, diện tích 430m², địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh cho ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị H2. Giữa năm 2024, gia đình ông H có nhu cầu sử dụng phần đất mà vợ chồng ông H1 xây tường nên đã sang nói chuyện và đề nghị vợ chồng ông H1 phá dỡ bức tường bao trả lại cho vợ chồng ông H phần diện tích đất đã mượn. Tuy nhiên, vợ chồng ông H1 nhất định không tháo dỡ bức tường mà còn chửi bới ông H bà H2. Do hai bên không tự giải quyết được, ông H bà H2 đã đề nghị UBND xã Q, huyện L đã tổ chức buổi hoà giải yêu cầu vợ chồng ông H1 bà Đ phải tháo dỡ bức tường để trả lại phần diện tích đã xây dựng. Tuy nhiên buổi hoà giải không thành, vợ chồng ông H1 vẫn chống đối, không tháo dỡ bức tường mà vợ chồng ông H cho xây nhờ.
Theo đơn khởi kiện, ông H đề nghị Toà án giải quyết: Buộc vợ chồng ông H1 bà Đ phải trả lại phần diện tích 6,2m² mà ông H1 bà Đ xây dựng lấn chiếm đất của ông H bà H2. Sau khi có kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, ông H đã có yêu cầu sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và đề nghị Toà án: Buộc vợ chồng ông H1 bà Đ phải trả lại phần diện tích 7,1m² đất thuộc thửa đất số 132, tờ bản đồ số 22, diện tích 430m², địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh) cho vợ chồng ông H và phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên thửa đất của vợ chồng ông H.
Đồng bị đơn là ông Nguyễn Xuân H1 và bà Nguyễn Thị Đ thống nhất trình bày: Thửa đất số 123, tờ bản đồ 22, diện tích 518 m², địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Xuân H1 và bà Nguyễn Thị Đ có nguồn gốc là do bố mẹ ông H1 cho ông H1 từ năm 1988. Năm 2012, vợ chồng ông bà làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 123 là toàn bộ phần diện tích đất của bố mẹ cho ông, còn ao của thôn do UBND xã Q quản lý chưa được hợp thức hóa cho vợ chồng ông bà. Bức tường phía Tây và bức tường phía Nam giáp với thửa đất của gia đình ông H, vợ chồng ông bà xây dựng từ năm 2009 và khi xây dựng đôi bên không xảy ra tranh chấp gì. Đến năm 2024 đôi bên mới xảy ra tranh chấp. Nay ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông bà phải trả lại vợ chồng ông H bà H2 7,1m² đất thuộc thửa đất số 132 và phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên thửa đất của vợ chồng ông H. Quan điểm của ông bà là phần diện tích đất này là của vợ chồng ông bà nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H. Ông bà đề nghị Toà án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Bắc Ninh theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay ông Cao Phan T, ông Cao Duy K và anh Nguyễn Xuân H7 vắng mặt. Tuy nhiên, xét thấy quyền lợi của các bên đã được đảm bảo nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Thửa đất số 132 của ông H bà H2 và thửa đất số 123 của ông H1 bà Đ đều có nguồn gốc do Chính quyền thôn Q cấp từ năm 1988. Căn cứ vào các tài liệu đo đạc và kết quả thẩm định tại chỗ, Hội đồng xét xử thấy rằng phần diện tích 7,1m² đất mà ông H1 bà Đ xây dựng công trình lên thực chất thuộc chỉ giới thửa đất số 132 của gia đình ông H. Việc ông H1 bà Đ cho rằng đây là đất của mình nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh là không có cơ sở. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175, 176 Bộ luật dân sự; Luật đất đai; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án. Tòa án nhân dân khu vực 9 xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình H.
- Buộc ông Nguyễn Xuân H1 và bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại cho ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị H2 7,1m² đất thuộc thửa đất số 132, tờ bản đồ số 22, diện tích 430m², địa chỉ: Thôn Q, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
- Buộc ông Nguyễn Xuân H1 và bà Nguyễn Thị Đ phải tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng trên phần diện tích đất lấn chiếm nêu trên.
- Về án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Xuân H1 và bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả chi phí xem xét thẩm định cho ông H theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Khu vực 9; - Phòng THADS Khu vực 9; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Hà |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Xuân Quốc Nguyễn Đức Hùng |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Hà |
Bản án số 54/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 54/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiến Huấn tranh chấp QSD đất
