|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG THÁP Bản án số: 54/2025/DS-ST. Ngày: 20-8-2025. V/v tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Chinh;
2. Ông Võ Chí Sĩ;
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tèo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 473/2024/TLST-DS, ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST- DS ngày 23/7/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện hợp pháp của bà H: Anh Lê Long H1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp). Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963.
Địa chỉ: ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
A, sinh năm 1983.
2/ Chị Lê Ngọc D, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp).
(Ông H1, ông K có mặt; chị D có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có anh Lê Long H1 là đại diện theo uỷ quyền đồng thời anh H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà H có diện tích đất 1232,0m² (đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa số 85, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Bà H được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/10/2020.
Vào năm 2007, trong lúc bà H không có ở nhà thì ông Nguyễn Văn K mang khoảng một số cây dừa sang thửa đất của bà H để trồng chắn ngang trước mặt tiền (đất bà H và đất ông K đối diện, cách nhau con lộ).
Sau đó, khi bà H về phát hiện và có yêu cầu ông K bứng hàng dừa đi, tuy nhiên ông K nói, đã lỡ trồng rồi nên để ăn trái xong rồi đốn. Ông K trình bày thêm với để đất trống không trồng gì thì uổng. Ông K còn cam kết khi nào bà H có nhu cầu sử dụng thì ông K sẽ đốn cây trả lại đất, do là chỗ bà con thân thiết nên bà H đã đồng ý.
Đến năm 2022, do hàng dừa nêu trên đã lớn, nên tán dừa phủ kín các cây trồng trên diện tích đất của bà, gây hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng của bà H trên đất. Đồng thời, hàng dừa nêu trên rụng tàu lá nhiều, nhưng ông K không dọn dẹp gây khó khăn và cản trở bà H sử dụng diện tích đất nêu trên.
Cho nên, bà H có yêu cầu ông K đốn hàng dừa như đã hứa, để không gây ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của bà H. Tuy nhiên, ông K không đồng ý và cho rằng ông trồng dừa trên đất của ông nên không đồng ý đốn. Bà H có làm đơn yêu cầu UBND xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp giải quyết, ông K có đến nhưng hai bên hòa giải không thành.
Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Văn K di dời các cây dừa, cây xoài trồng trên diện tích đất của bà H, diện tích đất lấn chiếm có chiều ngang 6m, chiều dài 29,08m thuộc một phần diện tích 1232,0m² (đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa số 85, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Yêu cầu ông K chấm dứt hành vi gây cản trở bà H sử dụng thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bà H thống nhất biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2024, sơ đồ đo đạc ngày 21/11/2024; Biên bản định giá ngày 26/3/2025.
Tại phiên toà, ông H1 đại diện theo uỷ quyền của bà H xác định yêu cầu ông K di dời cây trồng các cây trồng là xoài, dừa trên các mốc MD, MC, M4 để trả cho bà H diện tích 19,2 m². Đồng ý giá trị các cây trồng trên đất là 25.000.000 đồng. Tuy nhiên bà H chỉ đồng ý hỗ trợ cho ông K số tiền 13.000.000 đồng để di dời.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:
Ông Nguyễn Văn K không đồng ý trả lại đất cho bà H vì diện tích đất mà bà H tranh chấp có nguồn gốc từ ông Nguyễn Văn N. Ông N cho con gái là Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị H. Khi đó không có cắm trụ đá. Ông K và bà M (chết năm 2013) có trồng dừa, trồng xoài chu (năm 1994) còn sống 03 cây xoài, 04 cây dừa và sau đó có trồng thêm dừa 05 cây dừa khoảng 10 năm và 05 cây xoài chu khoảng 05 năm. Khi trồng cây thì bà H không hề tranh cản. Sau này Nhà nước có chính sách làm đường thì ông K có chừa ra để làm đường đi. Trong đó, diện tích đất mà bà H khởi kiện là chân lộ thuộc phần đất của ông K.
Giấy đất hiện nay ông đang quản lý không cầm cố thế chấp cho cơ quan, tổ chức nào. Ông sẽ nộp bản sao lại cho Tòa án.
Ông K thống nhất biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2024, sơ đồ đo đạc ngày 21/11/2024; Biên bản định giá ngày 26/3/2025.
Tại phiên toà, ông K đồng ý trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà H, xác định giá trị các cây trên đất tranh chấp là 25.000.000 đồng, ông giao toàn bộ cây trồng từ mốc M4, MD, MC lại cho bà H. Các cây còn lại gồm 2 cây dừa và 01 cây xoài tại các mốc MC, MB ông trồng trên mương lộ, không nằm trên đất của bà H nên không đồng ý di dời.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Ngọc D vắng mặt, không có văn bản ghi ý kiến gửi nộp cho Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ như sau:
* Tài liệu chứng cứ bà Nguyễn Thị H nộp cho Tòa án gồm:
Nguyên đơn nộp cho Tòa án gồm:
- 01 CCCD Nguyễn Thị H, Lê Long H1 (photo);
- 01 Hợp đồng ủy quyền ngày 03/6/2024 (bản chính);
- 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CY 699138 (photo);
- 01 Công văn số 04/UBND-TP ngày 05/4/2022 (photo);
- 01 Biên bản hòa giải ngày 24/3/2022 (photo);
- 01 Công văn số 11257/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 08/7/2024 và 01 Trích lục bản đồ địa chính thửa số 85 (bản chính);
Bị đơn nộp tài liệu chứng cứ sau: Không có.
* Tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập gồm:
- Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2024
- Sơ đồ đo đạc ngày 21/11/2024
- Biên bản định giá ngày 26/3/2025.
- Công văn số 21286/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 25/12/2024 và hồ sơ cấp giấy kèm theo (bản sao)
Các tài liệu trong hồ sơ các đương sự thống nhất. Không ai cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và không yêu cầu thu thập thêm tài liệu chứng cứ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 phát biểu về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên không có kiến nghị.
Về nội dung vụ án: Thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11 của bà H có nguồn gốc là của cụ ông Nguyễn Văn N (cha bà H). Bà H nhận chuyển nhượng đất từ cụ N (theo hình thức cụ N vừa bán, vừa cho đất bà H), bà H được cấp quyền sử dụng đất lần đầu năm 1984, thực hiện cấp đổi quyền sử dụng đất vào năm 2020. Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 11 của ông K có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn N cho bà Nguyễn Thị M (vợ ông K và là em ruột bà H), ông K trình bày bà M được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1984, khi bà M chết năm 2014 thì ông K thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp quyền sử dụng đất ngày 02/6/2024.
Giữa thửa đất số 85 của bà H với thửa đất số 62 của ông K hiện nay là con đường đất, con đường này đã có từ trước khi giải phóng. Theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất và cấp đổi quyền sử dụng đất đối với thửa số 85, tờ bản đồ số 11 của bà H thì các trích lục bản đồ địa chính thửa số 85 có một cạnh giáp đường đất, đồng thời sơ đồ đo đạc hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 21/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thì thửa đất số 85 cũng có cạnh MC-MD giáp đường đất.
Ông K cho rằng diện tích tranh chấp 19,2m² từ mốc M4-MC-MD là thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 11 của ông K chứ không phải thuộc thửa 85, tờ bản đồ số 11 của bà H vì ông và bà M được cụ N cho thửa số 62 có vị trí sau hậu qua sang bên kia lộ đất. Tuy nhiên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông K ngày 02/6/2014 thì sơ đồ, hình thể thửa đất số 62 chỉ có cạnh phía sau hậu giáp đường đất, đồng thời ông K cũng không có khiếu nại gì về việc cấp quyền sử dụng đất đối với thửa 62 của ông.
Từ những căn cứ trên xác định diện tích 19,2 m² từ mốc M4-MC-MD thuộc một phần thửa số 85, tờ bản đồ số 11 là của bà H nên bà H yêu cầu ông K di dời các cây trồng trên phạm vi 19,2 m² từ mốc M4-MC-MD là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, trên diện tích 19,2 m² có các cây dừa, xoài do ông K trồng, bà H cho rằng vào năm 2007, trong lúc bà H không có ở nhà thì ông Nguyễn Văn K mang khoảng một số cây dừa sang thửa đất của bà H để trồng, bà H không có báo chính quyền địa phương nhưng bà H có yêu cầu ông K di dời và được ông K cam kết khi nào bà H có nhu cầu sử dụng đất thì ông K sẽ di dời, nhưng bà H chỉ trình bày mà không có căn cứ chứng minh việc ông K sẽ cam kết di dời, ông K cũng không thừa nhận sẽ cam kết di dời, đồng thời hiện nay các cây do ông K trồng đã lớn nếu di dời sẽ làm giảm giá trị, đồng thời ông K đồng ý giao tất cả cây trồng cho bà H quản lý, sử dụng. Do đó, các cây dừa, xoài trên diện tích 19,2 m² từ mốc M4-MC-MD sẽ giao cho bà H quản lý, sử dụng. Bà H có nghĩa vụ trả giá trị cây cho ông K.
Căn cứ Điều 236 Luật đất đai; Điều 166 Bộ luật dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận một phần yêu cầu của bà H. Buộc ông Nguyễn Văn K trả lại cho bà H diện tích đất 19.2m² thuộc một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11 xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp) trong phạm vi các mốc M4-MC-MD theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 21/11/2024. Bà H có nghĩa vụ trả giá trị các cây dừa, xoài do ông K trồng với số tiền 25.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Nguyễn Văn K trả lại tổng diện tích đất cho bà H là 19,2 m² thuộc thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11, đất toạ lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Do diện tích đất tranh chấp tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Chị Lê Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.
[4] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Nguyễn Văn K trả lại cho bà H diện tích đất là 19,2 m² nằm trong thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11, đất toạ lạc tại xã M, tỉnh Đồng Tháp. Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về nguồn gốc đất: Cả bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn K đều thống nhất thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11, đất toạ lạc tại xã M, tỉnh Đồng Tháp là của bà Nguyễn Thị H. Ông K có thửa đất số 62, tờ bản đồ số 11 cách đất của bà H một con đường đất. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 06/7/2024 thì đất của bà H có một cạnh giáp đường, việc ông K sử dụng đất từ thửa số 62 kéo dài qua đường đất sử dụng luôn phần mặt tiền phía trước đất của bà H là không phù hợp.
[4.2] Ông K cho rằng ông trồng cây trên đất mương lộ không phải đất của bà H, khi trồng cây bà H cũng không tranh cản. Tuy nhiên, tại phiên toà ông K cũng thừa nhận việc ông trồng cây không thuộc thửa đất của ông được cấp giấy. Do đó, ông thống nhất trả lại diện tích đất tranh chấp diện tích 19,2 m² đất lại cho bà H. Riêng về cây trồng, ông thống nhất giá trị là 25.000.000 đồng. Yêu cầu bà H trả giá trị cây trồng, ông giao toàn bộ cây cho bà H quản lý sử dụng. Do đó, yêu cầu của bà H là có cơ sở để chấp nhận.
[4.3] Về quá trình sử dụng đất: Từ khi bà H nhận chuyển nhượng và đứng tên quyền sử dụng đất thì ông K có trồng dừa và xoài năm 1994 và tiếp tục trồng cho đến nay. Do bà H và vợ ông K là bà M là chị em ruột nên không có ngăn cản, do đó bà H phải có trách nhiệm về việc không ngăn cản này. Do bà H và ông K đều xác định thống nhất giá trị tất cả các cây trồng là 25.000.000 đồng, ông K đồng ý giao tất cả cây trồng cho bà H quản lý, sử dụng. Xét việc di dời cây trồng sẽ làm giảm hoặc mất giá trị sử dụng nên bà H có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông K là 25.000.000 đồng, bà H được toàn quyền sử dụng các cây trồng nêu trên.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ như đã phân tích.
[6] Từ những phân tích và căn cứ pháp luật, Hội đồng xét xử tuyên bố chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án do yêu cầu của bà H được chấp nhận nên ông K phải nộp án phí theo quy định, nhưng do ông K là người cao tuổi nên được miễn nộp.
Do bà H phải trả giá trị cây trồng cho ông K là 25.000.000 đồng nên bà H phải chịu án phí, nhưng do bà H là người cao tuổi nên được miễn nộp.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Nguyễn Văn K phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá số tiền là 5.111.570 đồng theo quy định tại Điều 157, Điều 165 Bộ Luật tố tụng dân sự. Bà H đã tạm ứng và chi xong nên ông K phải trả lại cho bà H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26, Điều 137, Điều 236 Luật đất đai; Khoản 9 Điều 26, Điểm a, c khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 244, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.
1.1 Buộc ông Nguyễn Văn K trả lại cho bà H diện tích đất 19.2 m² thuộc một phần thửa đất số 85, tờ bản đồ số 11 xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp) trong phạm vi các mốc MD, M4, MC theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 21/11/2024.
1.2 Phạm vi các mốc MD, M4, MC được xác định cụ thể như sau:
- Đường thẳng nối từ mốc MD đến mốc M4 dài 1.43 m.
- Đường thẳng nối từ mốc M4 đến mốc MC dài 26.86 m.
- Đường thẳng nối từ mốc MC đến mốc MD dài 26.94 m.
Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và sơ đồ đo đạc hiện trạng khu đất tranh chấp cùng ngày 21/11/2024 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C.
1.3 Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Văn K số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Bà H được sử dụng toàn bộ cây trồng trên diện tích đất tranh chấp trong phạm vi các mốc MD, M4, MC theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 21/11/2024.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Nguyễn Văn K phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá số tiền là 5.111.570 đồng (Năm triệu một trăm mười một nghìn năm trăm bảy mươi đồng). Bà H đã tạm ứng và chi xong nên ông K phải trả có trách nhiệm trả lại cho bà H.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Minh |
Bản án số 54/2025/DS-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất
- Số bản án: 54/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/C QSDĐ
