|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 54/2025/DS - PT Ngày: 05 - 6 - 2025 V/v tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Ông Chu Thái Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Phượng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 83/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm A xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Vắng mặt
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm A xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Có mặt
- - Bị đơn: Anh Trần Văn T2, sinh năm 1984. Có mặt
- Chị Đinh Thị N, sinh năm 1989. Có mặt
- Cùng địa chỉ: Xóm A xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Trần Văn T2 và chị Đinh Thị N: Ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1 – Luật sư công ty L – Đoàn luật sư thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Anh Trần Văn T2 và chị Đinh Thị N (là bị đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 09-12-2024; Bản tự khai, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày: Chị có cho vợ chồng anh T2, chị N vay số tiền là 500.000.000 đồng vào ngày 30-8-2023, với lãi suất hàng tháng 1,2% là 6.000.000 đồng để làm váy cưới của gia đình. Khi cho vay, chị đưa tiền cho chị N và chị N cũng đã ký giấy vay tiền; việc trả lãi là chị N trả nhưng có tháng trả có tháng không trả. Khi chị có nhu cầu lấy lại số tiền cho vay, chị đã gặp vợ chồng anh T2, chị N nhiều lần để đòi lại số tiền cho vay nhưng anh T2, chị N không trả. Nay chị khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng anh T2, chị N có nghĩa vụ trả cho chị số tiền đã vay là 500.000.000 đồng và chị không yêu cầu trả lãi.
* Bị đơn chị Đinh Thị N trình bày: Chị có vay của chị Trần Thị T số tiền là 500.000.000 đồng từ năm 2023; hàng tháng chị đóng lãi 9.000.000 đồng và cách đây mấy tháng chị T lấy lãi 10.500.000 đồng. Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị trả nợ, chị nhận nghĩa vụ trả nợ cho chị T nhưng do kinh tế khó khăn chị xin trả dần. Chồng chị là anh Trần Văn T2 không có liên quan gì đến việc vay mượn tiền giữa chị và chị T.
* Anh Trần Văn T2 trình bày: Anh không biết khoản vay mượn tiền giữa vợ anh và chị Trần Thị T. Việc vay mượn tiền là việc của vợ anh và chị T anh không có liên quan.
* Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy đã quyết định:
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thơm
Buộc chị Đinh Thị N có nghĩa vụ trả bà Trần Thị T số tiền 500.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
* Ngày 14 tháng 3 năm 2025, anh Trần Văn T2 và chị Đinh Thị N có kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét và sửa bản án sơ thẩm của TAND huyện Giao Thủy
* Tại phiên toà:
- - Anh Trần Văn T2 trình bày: Anh không biết gì về việc vay mượn tiền giữa vợ anh với bà T nhưng bà T lại khởi kiện anh là bị đơn làm ảnh hưởng đến anh.
- - Chị Đinh Thị N trình bày: Chị có vay tiền của bà T và còn nợ bà T số tiền 500.000.000 đồng là đúng; chị nhận trách nhiệm trả nợ cho bà T nhưng do điều kiện khó khăn nên chị xin được trả nợ dần. Chị đã nhiều lần trả lãi cho bà T hàng tháng là 9.000.000 đồng chứ không phải là 6.000.000 đồng như bà T trình bày. Chị đã trả lãi cho bà T từ tháng 8/2023 đến tháng 8/2024 với tổng số tiền lãi là 129.000.000 đồng nhưng cụ thể như nào thì chị không nhớ rõ; chị đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giải quyết để trừ vào số tiền lãi đã trả vượt quá quy định cho chị.
- - Đại diện VKS trình bày quan điểm: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm và xem xét đơn kháng cáo của anh T2, chị N, VKSND tỉnh Nam Định thấy rằng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về nội dung: Căn cứ tài liệu hồ sơ có trong vụ án, lời khai của các đương sự và tại phiên tòa hôm nay có thể khẳng định: Chị Đinh Thị N có vay của bà Trần Thị T số tiền 500.000.000đ, được thể hiện tại giấy vay tiền ngày 30/8/2023 do bà T cung cấp, có chữ ký của chị N, bà T. Bản thân chị N cũng thừa nhận việc đã vay của chị T số tiền 500.000.000đ và nhận trách nhiệm trả nợ. Do đó nguyên đơn yêu cầu chị Đinh Thị N trả cho nguyên đơn số tiền 500.000.000đ là có căn cứ. Căn cứ điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, TA cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc chị N có trách nhiệm trả cho bà T số tiền đã vay là 500.000.000₫ là đúng quy định. Do đó, kháng cáo của vợ chồng anh T2, chị N không có cơ sở xem xét. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 24-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N có nghĩa vụ trả cho chị số tiền đã vay là 500.000.000 đồng.
Cấp sơ thẩm xác định và triệu tập anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn là hoàn toàn có căn cứ, đúng với quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N cũng vắng mặt. Ngày 03-3-2025, tòa án cấp sơ thẩm giao bản án dân sự sơ thẩm cho anh Trần Văn T2 qua người nhận thay là anh Trần Như Q (cháu anh T2). Ngày 14-3-2025 anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N mới nộp đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy:
3.1. Quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, chị Đinh Thị N đều thừa nhận: Chị có vay của chị Trần Thị T số tiền là 500.000.000 đồng; chồng chị là Trần Văn T2 không biết và không có liên quan gì đến khoản vay này. Chị nhận trách nhiệm trả nợ cho chị T nhưng do điều kiện khó khăn nên chị xin được trả nợ dần.
3.2. Nội dung “Giấy vay tiền” thể hiện: Ngày 30 tháng 8 năm 2023, bà Trần Thị T cho bà Đinh Thị N vay với số tiền là 500.000.000 đồng, mức lãi suất cho vay 6.000.000 đồng/1 tháng, thời hạn vay là không giới hạn, khi cần thanh toán số tiền vay thì thông báo cho bên vay trước một tháng. Tại mục “Bên vay” chị Đinh Thị N ký tên xác nhận.
3.3. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Đinh Thị N cho rằng: Chị T khởi kiện nói tiền lãi 6.000.000 đồng/1 tháng là không đúng. Chị đã phải trả tiền lãi cho chị T là 9.000.000 đồng/1 tháng và mấy tháng gần đây chị đã phải trả lãi là 10.500.000 đồng/1 tháng; tổng số tiền lãi chị đã trả cho chị T đến nay là khoảng 129.000.000 đồng nhưng cụ thể như thế nào thì chị không nhớ rõ. Chị nhận trách nhiệm trả khoản tiền vay cho chị T nhưng chị đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết để trừ vào số tiền lãi chị đã phải trả vượt quá quy định.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả khoản tiền vay gốc và không yêu cầu xem xét về lãi; không có đương sự nào có yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập; cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết về khoản tiền lãi. Do vậy, cấp phúc thẩm cũng không xem xét giải quyết đối với số tiền lãi đã trả vượt quá quy định theo như quan điểm trình bày của chị Đinh Thị N.
[4] Tại cấp phúc thẩm, các đương sự cũng không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ nào mới khác để chứng minh cho yêu cầu của mình.
Do vậy, kháng cáo của anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N là không có căn cứ nên không được chấp nhận
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự có kháng cáo phải nộp án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N mỗi người phải nộp 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại các Biên lai thu tiền số 0002307 và 0002305 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Minh Hồng |
Bản án số 54/2025/DS - PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 54/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N mỗi người phải nộp 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại các Biên lai thu tiền số 0002307 và 0002305 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; anh Trần Văn T2, chị Đinh Thị N đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
