Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HSST

Ngày: 29/11/2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng, ông Trần Hậu Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXHSST – HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 04 tháng 11 năm 1984, tại xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu D, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; đảng, phái: Quần chúng; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Bùi Văn C và bà: Phạm Thị T1; anh em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; có vợ: Hoàng Thị Hương H và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/11/2008, Bùi Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, theo Bản án số 57/2008/HSST, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo điểm a, d khoản 2, Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong bản án, chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách, đương nhiên xóa án tích; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ từ ngày 07/08/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà

Người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại:

- Chị Bùi Thị T2; sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên toà

- Ông Nguyễn Đình K; sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Công chức; vắng mặt tại phiên toà

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T4; địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trung K1; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Mạnh C1; chức vụ: Quản lý đội xe Công ty T4, nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt tại phiên toà

Người làm chứng:

- Anh Trương Văn H1; sinh năm 1989;nơi cư trú: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt tại phiên toà

- Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt tại phiên toà

- Anh Nguyễn Quốc Q, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do,vắng mặt tại phiên toà

Người chứng kiến:

- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng E, số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 21/4/2020 (Có giá trị đến ngày 21/4/2025) cùng với Đặng Văn Đ, sinh năm 1987, trú tại Khu G, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ, hợp đồng lái xe ô tô cho T, chở hàng chạy theo tuyến Phú Thọ đi thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 06/6/2024 xe ô tô tải biển kiểm soát 19F-006.44 sau khi bốc hàng xong xuất phát từ tỉnh Vĩnh Long chở hàng ra thành phố Hà Nội, trên đường đi do Bùi Văn T và Đặng Văn Đ thay nhau điều khiển. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, Bùi Văn T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19F-006.44 của mình đi trên làn xe cơ giới số 1 (Làn đường sát với giải phân cách cố định), trên đường Q đến Km 550+700, Quốc lộ A thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện phía trước cùng chiều có xe ô tô biển kiểm soát 38A-520.42 do chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1993, trú tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển và trên làn đường xe cơ giới số 2 bên trái (Làn đường sát với làn đường xe thô sơ và người đi bộ) có xe ô tô bán tải, biển kiểm soát 38C-025.56 của Công ty TNHH T4, địa chỉ tại Tổ dân phố T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh do anh Trương Văn H1, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển đi cùng chiều phía trước. Cùng lúc này xe ô tô biển kiểm soát 38A-520.42 do chị Nguyễn Thị Hồng V điều khiển đi phía trước giảm tốc độ để chuyển hướng, do không làm chủ tốc độ và khoảng cách quá gần, Bùi Văn T đã đạp phanh và đánh lái sang phải để xử lý thì làm xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 do T điều khiển bị lật ngã nghiêng về phía bên trái, trên làn đường xe thô sơ và người đi bộ, phần thành, thùng xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 bên trái đè lên người và xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201 do ông Bùi Văn N, sinh năm 1961, trú tại T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển đang dừng lại trên làn đường xe thô sơ và người đi bộ để nhường đường cho các phương tiện đi qua và góc phía trước bên trái thùng xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 va chạm với góc phía sau bên phải xe ô tô bán tải biển kiểm soát 38C-025.56 do anh Trương Văn H1 điều khiển đang đi trên làn đường xe cơ giới số 2 (Làn đường sát với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ). Hậu quả vụ tai nạn làm ông Bùi Văn N1 bị chết tại hiện trường vụ tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201 bị hư hỏng thiệt hại 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng), xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56 bị hư hỏng thiệt hại 2.080.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng)

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh lập hồi 10 giờ 38 phút, ngày 07/6/2024, phản ánh: vụ tai nạn xẩy ra ở Km 550+700 đường Q, nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và biển báo người đi bộ qua đường, thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, giữa xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 với xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201 và xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56. Mặt đường Quốc Lộ 1A được rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có giải phân cách cứng cố định. Phần đường bên phải theo hướng xe ô tô 19F-006.44 chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 19F-006.44 chạy có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và biển báo người đi bộ qua đường.

Đánh số thứ tự vị trí các dấu vết:

  • (1) vết phanh bánh sau cùng bên trái xe ô tô biển kiểm soát 19F-00644 để lại trên mặt đường;
  • (02) vết phanh bánh sau cùng bên phải xe ô tô biển kiểm soát 19F-00644 để lại trên mặt đường;
  • (03) Vị trí xe ô tô biển kiểm soát 19F-00644 lật;
  • (04) vị trí xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201;
  • (05) vị trí xe ô tô loại bán tải, biển kiểm soát 38C-025.56.

Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km H7/550 bên phải đường Q làm mốc và mép đường nhựa Quốc lộ A bên phải làm chuẩn (Tính theo hướng từ Nam ra B), các dấu vết để lại hiện trường như sau:

Mô tả dấu vết hiện trường: Cách biển báo giao nhau với đường không ưu tiên về hướng Bắc 28,8m là điểm đầu vết phanh thứ nhất (1), đầu vết phanh thứ nhất cách mép đường nhựa bên phải 7,5m, kéo dài 40m, cuối vết phanh nằm dưới bánh sau bên trái xe ô tô 19F-006.44. Cách điểm đầu vết phanh thứ nhất (1) về hướng Bắc 12,5m là biên báo người đi bộ qua đường. Cách điểm đầu vết phanh (1) về hướng Bắc 0,7m là điểm đầu vết phanh thứ hai (2), đầu vết phanh thứ hai cách mép đường nhựa bên phải 5,5m, kéo dài 2,9m, cuối vết phanh cách mép đường nhựa bên phải 5,2m. Xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 (3) liên quan đến tai nạn bị lật ngã nghiêng về phía bên trái và nằm trên làn đường xe thô sơ và người đi bộ, đầu hướng ra B, đuôi hướng vào N, trục bánh sau bên trái vào mép đường nhựa bên phải 0,5m, trục bánh trước bên trái vào mép đường nhựa bên phải 1,8m. Cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 19F-006.44 về hướng Bắc 4,0m là trục bánh trước xe mô tô 49P6-2201 (4) liên quan đến tai nạn ngã nghiêng về phía bên trái, đầu xe hướng vào tâm đường Q, đuôi xe hướng ra mép đường nhựa bên phải, trục bánh trước xe mô tô 49P6-2201 cách mép đường nhựa bên phải 3,1m, trục bánh sau xe mô tô 49P6-2201 cách mép đường nhựa bên phải 2,1m. cách trục bánh trước xe mô tô 49P6-2201 về hướng Bắc 27,0m là trục bánh sau bên trái xe ô tô 38C-025.56 (5), đậu, đầu xe hướng ra B, đuôi xe hướng vào N, trục bánh sau bên trái cách mép đường nhựa bên phải 2,0m, trục bánh trước bên trái cách mép đường nhựa bên phải 4,7m

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

+ Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:

Góc bên phải ba đờ xốc phía trước, vị trí cách mép bên trái thành xe 14cm có dấu vết thủng nhựa trượt xước, kích thước 40cmx14cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 55cm; Góc bên phải ba đờ xốc phía trước bị móp lõm, trượt xước, bám dính chất màu đỏ, dạng sơn, kích thước 53cmx36cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 66cm; Ốp bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước, bên phải bị trượt xước, bám dính chất màu đỏ, kích thước 32cmx05cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 105cm; Góc bên trái kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ, kích thước 150cmx100cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 230cm; Cửa bên trái bị móp méo, trượt xước sơn, kích thước 130cmx105cm, phần kính của cánh cửa này bị vỡ hoàn toàn; Gương chiếu hậu phía trước bên trái bị cong gập theo chiều hướng từ trái sang phải, ốp nhựa bị nứt vỡ, phần gương bị vỡ hoàn toàn; Mặt la giăng bánh trước bên trái bị trượt xước kim loại, kích thước 40cmx30cm, hệ thống khung chắn gầm bên trái bị móp méo, trượt xước, bong tróc sơn, kích thước 280cmx44cm; Hệ thống khung kim loại thùng xe bị cong gập, gãy, trượt xước kim loại, kích thước 500cmx200cm, chiều hướng từ trái qua phải, tâm dấu vết cao cách mặt đất 2,3m; Hệ thống bạt phía sau thùng xe bị rách; Má lốp bên trái bánh phía ngoài, hàng bánh thứ hai tính từ trước ra sau bị mài trượt cao su, bám dính chất màu trắng dạng bột đá, kích thước 200cmx23cm. Má lốp bên trái phía ngoài hàng bánh thứ ba tính từ trước ra sau bị mài trượt cao su, bám dính chất màu trắng dạng bột đá, kích thước 200cmx23cm. Mặt bên trái thùng xe bị móp méo, trượt xước, kích thước 9,9cmx8,3cm; Góc phía trước, trên, bên trái khung bạt phía trên thùng xe bị trượt xước, móp méo kim loại, kích thước 85cmx60cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 310cm; Mặt bên trái khung bạt phía trên thùng xe tại vị trí cách đầu thùng xe 410cm bị móp méo, gãy, trượt xước kim loại, kích thước 120cmx100cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 300cm; Cánh cửa bên trái phía sau thùng bị bung rời các chốt cố định; Góc phía dưới bên trái thùng xe có vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu vàng, dạng bột, kích thước 10cmx05cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 110cm. (BL: 34-35).

+ Tại biên bản khám xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:

Ốp tay lái phía trước phía sau bảng điều khiển, đèn chiếu sáng, đèn xi nhan bị nứt vỡ, kích thước 50cmx49cm; Chắn bùn trước bị nứt vỡ, kích thước 70cmx20cm; Tay lái bên trái bị cong gập, chiều hướng từ phải sang trái, ốp cao su bị bung rời; Khung xe tại vị trí phía trên lốc máy bị cong gập theo chiều hướng từ trái sang phải; Vành bánh sau bị móp méo, biến dạng, nan hoa bị bung rời; Khung xe phía sau bị móp méo, cong gập, biến dạng chiều hướng từ trên xuống, đèn xi nhan phía sau bên phải, ốp nhựa phía trên đen xi nhan phía sau bên phải bị nứt vỡ, bám dính chất màu xanh, dạng sơn, kích thước 13cmx06cm; Chắn bùn bánh sau bị nứt vỡ, kích thước 36cmx15cm; Giảm xóc phía sau hai bên bị gãy, tay nâng bị gãy cong gập từ trên xuống dưới; Mặt bên trái yên xe có vết hằn, trượt xước, rách cao su, kích thước 45cmx15cm; Ống yếm bị nứt vỡ, kích thước 50cmx30cm .

+ Tại biên bản khám xe ô tô kiểm soát 38C-025.56 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:

Góc phía sau bên phải thùng xe bị trượt xước nhựa, bám dính chất màu bạc dạng sơn, kích thước 86cmx60cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 100cm; Cụm đèn hậu, đèn xi nhan phía sau bên phải bị gãy vỡ bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện; Góc bên phải phía sau ba đờ xốc phía sau bị trượt xước kim loại, bám dính chất màu bạc dạng sơn, kích thước 20cmx10cm.

Kết luận điểm va chạm: Theo kết luận giám định số 817/KL-KTHS, ngày 17/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận:

  • Xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 và xe ô tô mang biển kiểm soát 38C-025.56 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm: Góc phía trước, trên bên trái khung kim loại phía trên thùng xe ô tô mang biển kiểm soát 19F-006.44 va chạm với góc phía sau bên phải thùng, cụm đèn hậu, đèn xi nhan phía sau bên phải, góc bên phải ba đờ xốc phía sau xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56. Hai phương tiện va chạm với nhau khi xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 đã nghiêng sang trái.
  • Xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 và xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm: Mặt bên trái khung kim loại phía trên thùng (Vị trí cách mép đầu thùng 410cm) xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 va chạm với yên, tay nâng phía sau yên, chắn bùn bánh sau, đuôi xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201. Hai phương tiện va chạm với nhau khi xe ô tô mang biển kiểm soát 19F-006.44 đã nghiêng sang trái.
  • Xe ô tô mang biển kiểm soát 38C-025.56 và xe mô tô mang biển kiểm soát 49P6-2201 không va chạm với nhau

Kết quả khám nghiệm tử thi: Tại biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định Pháp Y số 826/KL-KTHS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H, kết luận: Tử thi là Bùi Văn N1, sinh năm 1961, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Các dấu vết để lại: Vùng thái dương đỉnh phải, cách trên đỉnh vành tai phải 03cm, cách sau đường chân tóc trán 03cm có đám xây xát da, sưng nề, bầm tụ máu trên diện 09x08cm, trên nền xây xát da có vết thương, kích thước 3,5cmx0,5cm; Vùng thái dương trái cách trên đỉnh vành tai trái 2,5cm có đám sưng nề, kích thước 07cmx6,5cm, trên nền sưng nề có một số vết xây xát da nằm rải rác; Từ gò má trái xuống đến cằm có đám bầm tụ máu trên diện 13cmx09cm; Môi trên bên trái có vết thương, kích thước 02cmx0,5cm; Môi dưới bên trái có vết thương, kích thước 1,5cmx01cm; Trật đốt sống cổ 5, 6; Mặt sau vai phải, cách sau bờ vai phải 02cm, cách đường giữa 01cm có đám bầm tụ máu trên diện 11cmx07cm; Mặt sau vai trái, cách mõm cùng vai 2,5cm có vết xây xát da, kích thước 04cmx01cm; Mặt ngoài 1/3 giữa cẳng tay trái có vết xây xát da, bầm tụ máu kích thước 05x04cm; Vùng lưng phải, cách dưới mõm xương bả vai 05cm có đám bầm tụ máu trên diện 13cmx05cm; Gãy kín cung sau xương sườn số 1, 2, 3 bên trái; Vùng mông có đám bầm tụ máu trên diện 24cmx20cm; Khoeo chân trái có vết phòng rộp bong tróc da diện 21cmx10cm; Mặt trong gót chân trái, cách đỉnh mắt cá trong 04cm có vết thương, kích thước 05cmx0,6cm; Gãy kín 1/3 trên xương đùi trái. Tiến hành giải phẫu tử thi: Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương phải; Xương hộp sọ bị vỡ, máu từ trong hộp sọ chảy ra ngoài. Xác định nguyên nhân chết do đa chấn thương

Kết quả định giá thiệt hại tài sản:

  • Theo kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐG ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 49P6-2201 bị hư hỏng, thiệt hại 1.800.000 đồng (Một triệu tam trăm nghìn đồng).
  • Theo kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐG ngày 23/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 38C-025.56, đăng ký lần đầu ngày 28/3/2013 do tai nạn giao thông bị hư hỏng, thiệt hại 2.080.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:

Tại phiếu kiểm tra kết quả nồng độ cồn vào lúc 11 giờ 30 phút 07 giây ngày 07/6/2024 của Bùi Văn T là 0.000mg/1 . Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện K ngày vào lúc 13 giờ 08 phút ngày 07/6/2024, xác định Bùi Văn T, âm tính với các chất ma túy.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:

Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ xử lý vật chứng cụ thể:

+ Vật chứng thu giữ, đã xử lý:

  • 01 (Một) xe ô tô tải, biển kiểm soát 19F-006.44; (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44, số 19 000183; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44, số EB 056841, thu của Bùi Văn T nay đã trả lại cho chủ sở hữu Bùi Văn T.
  • 01 (Một) xe xe ô tô bán tải, nhãn hiệu NISSAN, biển kiểm soát 38C-025.56; (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56, số 010411; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56, số DB 1017134; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56 thu của anh Trương Văn H1, nay đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH T4 có địa chỉ Tổ dân phố T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh do anh Vũ Mạnh C1 đại diện Công ty nhận lại tài sản.
  • 01 (Một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Trương Văn H1 thu của anh Trương Văn H1, nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Trương Văn H1. (BL: 18-19; 113-114)

+ Vật chứng thu giữ chưa xử lý:

  • 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 21/4/2020 mang tên Bùi Văn T, nay chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu FERROLI, biển kiểm soát 49P6-2201, thu giữ tại hiện trường, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý theo quy định của pháp luật

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi vụ tai nạn xảy ra Bùi Văn T đã cùng với gia đình lo chi phí mai táng cho nạn nhân Bùi Văn N1 và thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Nay đại diện người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị can. Đối với thiệt hại của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56, bị hư hỏng thiệt hại 2.080.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng), sau khi nhận lại tài sản anh Vũ Mạnh C1 đại diện Công ty TNHH T4 không yêu cầu bị can bồi thường số tiền thiệt hại trên.

Tại bản Cáo trạng số 57/CT- VKSKA ngày 31 tháng 10 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 21/4/2020 mang tên Bùi Văn T. Gao cho Cơ quan điều tra Công an huyện K 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu FERROLI, biển kiểm soát 49P6-2201 để tiếp tục xử lý theo quy định
  • Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bùi Văn T khi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19F-006.44 của mình, chạy trên đường Q, theo hướng từ N ra B, khi đi đến Km 550+700 đường Quốc lộ 1A, do không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi có biển cảnh báo nguy hiểm và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước, nên dẫn đến bị lật xe ô tô biển kiểm soát 19F-006.44 ngã nghiêng về phía bên trái đè lên người, xe mô tô 49P6-2201 do ông ông Bùi Văn N điều khiển đang dừng lại trên làn đường xe thô sơ, người đi bộ và xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56 do anh Trương Văn H1, sinh năm 1989, trú tại tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển chạy trên làn đường xe cơ giới số 2 Hậu quả ông Bùi Văn N1 bị chết tại hiện trường, xe mô tô biển kiểm soát 49P6-2201 bị hư hỏng, thiệt hại 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng), xe ô tô biển kiểm soát 38C-025.56 bị hư hỏng thiệt hại 2.080.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Hành vi của Bùi Văn T vi phạm khoản 1, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.

[3] Trong vụ án này, nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi thuộc về Bùi Văn T không chấp hành biển báo nguy hiểm để giảm tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, dẫn đến gây ra vụ tai nạn.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội, tại phiên toà bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.

[7] Về dân sự: Hiện nay, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu thêm gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

[8] Vật chứng vụ án:

  • Đối với 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 21/4/2020 mang tên Bùi Văn T, nay chuyển theo hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho Bùi Văn T là phù hợp.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu FERROLI, biển kiểm soát 49P6-2201, do bị hại Bùi Văn N1 điều khiển, chủ xe mang tên Nguyễn Trường Băng T3 (nơi đăng ký HKTT: Xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) do đó cần giao cho cơ quan điều tra để tiếp tục xử lý theo quy định

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Bùi Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về vật chứng vụ án: Trả lại cho Bùi Văn T 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 21/4/2020 mang tên Bùi Văn T (Giấy phép nói trên kèm theo hồ sơ vụ án). Gao cho Cơ quan điều tra Công an huyện K 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu FERROLI, biển kiểm soát 49P6-2201 để tiếp tục xử lý theo quy định ( đặc điểm và tình trạng vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh)

4. Về án phí: Xử buộc Bùi Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại (chị Bùi Thị T2) có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho bị hại (Ông Nguyễn Đình K), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Kỳ Anh (2 bản);
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn, HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 54/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger