Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAKRÔNG

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số:54/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thúy Phương

Bà Ly Ánh Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa:

Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:Lê Văn T, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2006 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 07 tháng 22 ngày); tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q, sinh năm 1977 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn T: Ông Nguyễn Lương C - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 30 ngày 25/6/2024, T điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, gắn biển kiểm soát 74K1-051.62 đi đến thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua từ một người thanh niên lạ mặt 15 viên ma túy tổng hợp với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe mô tô cầm số ma túy nói trên đi về thôn M, xã B để sử dụng. Khi đi đến Km 8+900 - Đường ĐT588A thuộc thôn X, xã T, huyện Đ. T thấy ở phía trước có xe ô tô và một chiếc xe mô tô đi theo sau, nghĩ là có lực lượng Công an đang tuần tra phía trước nên T vứt gói ni lông đựng ma túy đang cầm ở tay xuống lề đường bên phải và đi thêm được một đoạn thì bị lực lượng Công an huyện Đakrông ra hiệu lệnh đón dừng phương tiện kiểm tra. Quá trình kiểm tra T không thừa nhận gói ni long bên trong có chứa 15 viên ma túy tổng hợp thu giữa tại hiện trường cách vị trí kiểm tra khoảng 10 mét là do mình vừa vứt xuống. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi được gia đình động viên và nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật T đến cơ quan Công an đầu thú.

Bản kết luận giám định số: 782/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 15 viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng 1,4152 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Bản cáo trạng số: 48/CT-VKSÐKR ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn trả sau giám định: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu QT- SMT 371-C A ĐAKRÔNG của Phòng K - Công an tỉnh Q; 01 phong bì có dấu của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng, bên trong đựng 01 mảnh nilon trong suốt, không xác định hình dạng, kích thước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh Cáo trạng truy tố, các điều luật mà Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông đề nghị áp dụng, tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Ngày 25/6/2024, tại Km 08+900 - đường ĐT588A thuộc thôn X, xã T, huyện Đ; bị cáo Lê Văn T có hành vi tàng trữ 15 viên nén màu hồng; tại bản kết luận giám định số: 782/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 15 viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng 1,4152 gam. Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. Hành vi của bị cáo Lê Văn T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

[3] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình phạm tội. Để góp phần đẩy lùi tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe bị cáo và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị cáo đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ Người phạm tội thành khẩn khai báo” “ Đầu thú” được quy định tại s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Thời gian qua, tình hình tội phạm ma túy và tệ nạn ma túy trên địa bàn huyện Đ có những diễn biến phức tạp, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật và phòng chống ngăn ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi; khi lượng hình xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, áp dụng Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cần tiếp tục thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[4] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu QT-S MT 371-CA ĐAKRÔNG của Phòng K - Công an tỉnh Q, bên trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 phong bì có dấu của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng, bên trong đựng 01 mảnh nilon trong suốt, không xác định hình dạng, kích thước là vật cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự )

[5] Vấn đề khác: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu Lê Văn T 01 điện thoại di động Vivo 1916, màu xanh đen, số IMEI 1: 865966048173054, số IMEI 2: 865966048173047, cho ông Lê Văn Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn: Bạc Xám, biển kiểm soát 74K1-051.62 đúng quy định của pháp luật, tại phiên Tòa hôm nay Lê Văn T và Lê Văn Q không có ý kiến gì; Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Lê Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đang xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 4 Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 ( mười hai ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu QT-S MT 371-CA ĐAKRÔNG của Phòng K - Công an tỉnh Q bên trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 phong bì có dấu của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng, bên trong đựng 01 mảnh nilon trong suốt, không xác định hình dạng, kích thước.

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Đakrông;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đakrông;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T" Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger