Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HSST

Ngày 20 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Nguyễn Văn Chuyết

Ông Vũ Văn Phong

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Ông Đặng Trung H - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm: 1964; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: TDP B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/10; Con ông: Phạm Hữu T1 (đã chết), được công nhận là liệt sỹ năm 1969; con bà: Phạm Thị S (đã chết); Gia đình có 02 chị em, T là thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1998; Tiền án: Bản án sơ thẩm số 189/1998/HSST ngày 10/04/1998 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Phạm Văn T 11 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và phạt tiền 20.000.000 đồng. Bản án phúc thẩm số 922/1999/HSST ngày 25/5/1999 của TAND Tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm tuyên y án sở thẩm; xử phạt Phạm Văn T 11 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và phạt tiền 20.000.000 đồng. Ngày 01/02/2005 Phạm Văn T được đặc xá tha tù trước thời hạn. Phạm Văn T chưa thi hành khoản tiền phạt 20.000.000 đồng; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/4/2024, bị tạm giam từ ngày 06/5/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 27/4/2024, Phạm Văn T mang theo 100.000 đồng đi bộ đến khu vực cầu L để tìm mua Heroine về sử dụng. Tới nơi, T gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở đoạn đường đê sông N bên dưới gầm cầu L thuộc xóm C, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định. Nghĩ người này có ma túy bán nên T đến hỏi và mua của người này 01 (một) gói Heroine, gói bên ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 100.000 đồng cầm ở tay trái đi bộ quay về tìm nơi sử dụng. Khi T đang đi bộ trên đoạn đường đê thuộc xóm C, xã V thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày.

Vật chứng thu giữ:

T tự giác giao nộp cho lực lượng công an 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai nhận đây là gói Heroine của T vừa mua, cất giấu mục đích để sử dụng). Cơ quan công an tiến hành thu giữ, niêm phong ký hiệu "M".

Bản kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, trong phong bì được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,192 gam.

Xử lý vật chứng:

Số ma túy hoàn lại sau giám định cùng vỏ bao gói mẫu M được tiến hành bảo quản, quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện T: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện T chờ xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Cáo trạng số 47/QĐ-KSĐT ngày 17 tháng 07 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà:

  • - Bị cáo Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX; tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt Phạm Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Heroine thu của Phạm Văn T.

Bị cáo Phạm Văn T đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/04/2024 Phạm Văn T có hành vi cất giấu chất ma túy có trọng lượng 0,192 gam Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là con liệt sỹ. Xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy; cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Hình phạt bổ sung: HĐXX thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine đã thu của Phạm Văn T.

[6] Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/04/2024.

  2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine đã thu của Phạm Văn T có trong bì thư số 836/GĐKTHS của phòng K Công an tỉnh N (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 56/THA ngày 18 tháng 07 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện + tỉnh Nam Định;
  • - Công an huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND TT Cát Thành, huyện Trực Ninh;
  • - Lưu HSVA + VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger