|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 54/2024/HSST Ngày 16 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Đức Tiến;
2/ Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Văn N, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 27/4/1991 tại: Quảng Ngãi. Thường trú: Thôn H, xã T, Thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Chỗ ở: Không nơi ở ổn định. Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Nguyễn Thị Lệ H và một con sinh năm 2021. Nhân thân: Ngày 04/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã đóng án phí và chấp hành xong hình phạt tù. Tiền án, tiền sự : không. Tạm giam từ ngày 18/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: A đường số A, cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Phan Nguyễn Trọng V, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: A đường số A, cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Phan Công D, sinh năm 1956 ( có mặt)
Địa chỉ: A đường số A, cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Bà Trần Thị L, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: A Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
4/ Ông Ngô Mạnh C, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Chung cư B, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn N – Luật sư Nguyễn Trung H2 là luật sư của Công ty L1
Địa chỉ: I N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Nguyễn Thị Kim H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Công D: Luật sư Đàm Bảo H3, sinh năm 1976 là luật sư của Văn phòng luật sư Đàm Bảo H3.
Địa chỉ: tầng B - số G N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 10/09/2023, Công an P, quận B nhận được tin báo của bà Nguyễn Thị Kim H1 trình báo có một người tự xưng là Cán bộ công tác tại Bộ C1 hẹn bà H1 đến quán cà phê Thủy T1, tại địa chỉ: Nhà số A Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, để nhận số tiền 50.000.000 đồng nhằm giải quyết đơn tố cáo liên quan con trai bà H1 là Phan Nguyễn Trọng V. Đến 21 giờ cùng ngày, Công an P kiểm tra hành chính tại quán C2, phát hiện bà Nguyễn Thị Kim H1 cùng chồng là ông Phan Công D ngồi chung với một đối tượng nam bên cạnh ghế ngồi có một gói giấy báo có quấn dây thun bên ngoài, bên trong có một bì thư màu trắng. Sau đó, Công an P tiến hành tạm giữ tang vật này và mời tất cả về Trụ sở Công an phường để làm việc.
Tại Cơ quan Công an, đối tượng nam khai tên Lý Văn N, kiểm tra bên trong bì thư có số tiền 50.000.000 đồng, N khai nhận số tiền này dùng để lo việc cho gia đình bà H1 không bị đòi nợ. Công an Phường 26 quận B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B để xử lý theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã làm rõ hành vi của Lý Văn N như sau: Vào khoảng tháng 06/2023, thông qua mối quan hệ ngoài xã hội N biết được Hồ Xuân B (sống tại Úc) đang cần người đòi nợ Phan Nguyễn Trọng V nên N làm quen với B. Đến ngày 17/8/2023, B từ Úc về Việt Nam hẹn gặp N, cả hai sau đó gặp V tại 01 quán cà phê địa chỉ: Nhà số A, đường số A, Cư xá C, Phường B, quận B, tại đây, B yêu cầu V viết giấy nợ số tiền 2.400.000.000 đồng hẹn đến ngày 19-20/9/2023 phải trả. Đến 10 ngày sau, B gửi bản photo giấy nợ và cung cấp các số điện thoại của người thân V cho N, nếu N đòi được nợ thì sẽ được trả thù lao 40% của số tiền đòi nợ được. Thông qua B, N biết V còn nợ nhiều người khác và biết được chính xác thời điểm những người cho vay đến nhà bà H1 đòi nợ, nên ngày 14/8/2023 và 05/9/2023, N gửi hình ảnh, gọi điện báo cho bà H1 biết có người đến nhà đòi nợ, rồi N tự xưng tên là “H2” làm ở Công an Thành phố H để bà H1 tin tưởng. Ngày 07/09/2023, bà H1 cùng chồng là ông D hẹn gặp N tại quán C2. Tại đây, N biết bà H1 có ý định trả nợ số tiền 200.000.000 đồng cho công ty thu hồi nợ, N nói V cũng đang bị nhiều người gửi đơn tố cáo đến Bộ C1, nên yêu cầu bà H1 đưa trước số tiền 50.000.000 đồng lo không để các con nợ đến nhà đòi nợ, không phải trả số tiền 200.000.000 đồng và giải quyết các đơn tố cáo V tại Bộ C1. Ngoài ra, khi nói chuyện với bà H1 qua Z, N lấy lý do bận đi đánh án, nói sẽ đưa xe ô tô có biển số xanh 80 thuộc Bộ C1 đến đón bà H1 đi ăn uống, khi hẹn gặp mặt nhận tiền, V mặc áo thun có biểu tượng hình Công an và tặng khẩu trang có biểu tượng hình Công an cho bà H1 để tạo lòng tin với bà H1. Ngày 10/9/2023, sau khi nhận tiền từ bà H1 thì N bị Công an kiểm tra, bắt như đã nêu trên.
N còn khai nhận việc đi đòi nợ V là do ông Ngô Mạnh C là cán bộ công tác tại Bộ C1 giới thiệu và hứa hẹn sẽ chia tiền cho ông C. Tuy nhiên, qua làm việc với ông C, ông C có quen biết với N nhưng hoàn toàn không giới thiệu việc N đi đòi nợ cũng như được N hứa hẹn chia tiền.
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- Số tiền 50.000.000 đồng (gồm 100 tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng). Đây là số tiền của bà Nguyễn Thị Kim H1 sử dụng để đưa cho Lý Văn N. Số tiền này thuộc sở hữu của bà H1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bà H1.
- 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 59D3-28911. Đây là phương tiện mà Lý Văn N sử dụng đi đến quán C2 để gặp bị hại Nguyễn Thị Kim H1 vào ngày 10/9/2023. Kết quả xác minh, xe trên do bà Trần Thị L đứng tên chủ sở hữu. Sáng ngày 10/9/2023, N có gọi điện thoại bà L hỏi mượn xe trên để đi uống cà phê với bạn, bà L đồng ý. Việc N dùng xe trên để thực hiện hành vi phạm tội thì bà L không biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bà L. (BL: 43, 84)
- 01 bản chính đơn tố cáo do Hồ Xuân B ký; 01 bản chính giấy hứa trả thù lao; 01 tờ giấy A4 ghi nhận thông tin người nhà của Phan Nguyễn Trọng V; 01 bản photo giấy nhận nợ; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Phan Nguyễn Trọng V. Đây là những tài liệu thu giữ của bị cáo Lý Văn N do N mang theo để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 10/9/2023. (BL: 72-82)
- 01 tờ giấy có ghi nội dung: “số sê ri tiền, phía trên: tờ 1 PS20735786, tờ 2 XK18479510, tờ 3 DR19174271; phía dưới: tờ 1 CM 17668773, tờ 2 UH 15408352, tờ 3 DY15711669. Đây là tờ giấy thu giữ từ ông Phan Công D thể hiện số sêri các tờ tiền trước khi bà H1 đưa tiền cho bị cáo Lý Văn N. (BL: 83)
- 21 tờ giấy ghi nhận ảnh chụp màn hình điện thoại có nội dung trao đổi gữa bà H1 và tài khoản zalo tên “Em báo nợ”. Đây là nội dung tin nhắn qua zalo giữa bà H1 và Lý Văn N. Cơ quan điều tra đề nghị chuyển theo hồ sơ vụ án.
- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11 Pro, màu đen có số Imei: 35 3240108033825, số Imei 2: 35 240107702750 có gắn sim số 0989.484.833; 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đỏ, số Imei 1: 35 7002990247111, số Imei 2: 357002991247110 có gắn sim số 0777.881.688. Đây là phương tiện N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. (BL: 89)
- 01 áo thun có cổ, ngắn tay, màu xanh đậm, ngực trái có thêu biểu tượng ngành Công an và chữ “Bộ C1”, “Công an nhân dân” in hoa; 01 quần tây dài, màu xanh; 03 khẩu trang, màu xanh lá cây có phù hiệu Công an nhân dân bị cáo N khai đặt mua qua mạng xã hội; 01 (một) áo khoác tay dài, màu xám, phía sau có chữ “RBK”; 01 cặp có quai và dây đeo màu nâu. Đây là trang phục và các đồ vật N sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. (BL: 85)
- 01 USB hiệu Kingston, màu đen, dung lượng 64 Gb, chứa các dữ liệu nội dung ghi âm cuộc trò chuyện giữa bà Nguyễn Thị Kim H1 và Lý Văn N thu giữ từ ông Phan Công D. (BL: 87)
Bản cáo trạng số 57/CTr-VKSBTh ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lý Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Lý Văn N đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Lý Văn N từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Luật sư Nguyễn Trung H2 bào chữa cho bị cáo Lý Văn N:
- Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng.
- Về hình phạt: mức án đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là quá nặng vì khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có gia cảnh khó khăn, có nhận thức về pháp luật hạn chế. Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, Điều 51; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 51. Bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn đề nghị của Viện Kiểm sát.
- Ngoài ra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. cha của bị cáo là quân nhân đã từng phục vụ cho quân đội, bị cáo có 1 con
còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Mục đích của pháp luật không phải trừng trị là chính mà còn có tính giáo dục để bị cáo sớm có cơ hội phục thiện.
Từ những phân tích ở trên tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo có mức án nhẹ nhất để sớm có điều kiện cải tạo làm người tốt giúp gia đình, giúp xã hội.
Luật sư Đàm Bảo H3 bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại bà H1, người liên quan ông D trình bày tranh luận:
Thống nhất với việc truy tố của Viện kiểm sát, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết đúng pháp luật để bảo đảm quyền lợi cho công dân.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với luật sư bào chữa cho bị cáo: Mức án Viện kiểm sát truy tố là không nặng. Đối với thiệt hại của bị hại là chưa có do người bị hại bà H1 chủ động báo Công an, do đó không có cơ sở để xem xét tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày hôm nay, bị hại, người có quyền có lợi liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là người có công, bị cáo có con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:
Lúc 21 giờ 00 phút ngày 10/9/2023, tại quán C2, địa chỉ: Nhà số A Đ, Phường B, quận B, Lý Văn N đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối như: N đang làm trong ngành Công an, có thể giải quyết các đơn tố cáo Phan Nguyễn Trọng V ở Bộ C1, lo việc không để các con nợ đến nhà bà H1 đòi nợ, lo việc bà H1 không phải trả các con nợ 200.000.000 đồng nhằm mục đích tạo lòng tin để chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim H1.
Xét bị cáo Lý Văn N thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá 50.000.000 đồng. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc truy tố này.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Lý Văn N đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét thấy, bị cáo Lý Văn N là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng sự sơ suất của người bị hại, dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo Lý Văn N là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. cha của bị cáo là quân nhân đã từng phục vụ cho quân đội, bị cáo có 1 con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình; bị hại, người liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Kim H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 bản chính đơn tố cáo do Hồ Xuân B ký; 01 bản chính giấy hứa trả thù lao; 01 tờ giấy A4 ghi nhận thông tin người nhà của Phan Nguyễn Trọng V; 01 bản photo giấy nhận nợ, 01 bản photo căn cước công dân mang tên Phan Nguyễn Trọng V. Đây là những tài liệu thu giữ của bị cáo Lý Văn N do N mang theo để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 10/9/2023; 01 tờ giấy có ghi nội dung: “số sê ri tiền, phía trên: tờ 1 PS20735786, tờ 2 XK18479510, tờ 3 DR19174271; phía dưới: tờ 1 CM 17668773, tờ 2 UH 15408352, tờ 3 DY15711669. Đây là tờ giấy thu giữ từ ông Phan Công D thể hiện số sêri các tờ tiền trước khi bà H1 đưa tiền cho bị cáo Lý Văn N; 21 tờ giấy ghi nhận ảnh chụp màn hình điện thoại có nội dung trao đổi gữa bà H1 và tài khoản zalo tên “Em báo nợ”. Đây là nội dung tin nhắn qua zalo giữa bà H1 và Lý Văn N; 01 USB hiệu Kingston, màu đen, dung lượng 64 Gb, chứa các dữ liệu nội dung ghi âm cuộc trò chuyện giữa bà Nguyễn Thị Kim H1 và Lý Văn N thu giữ từ ông Phan Công D. (BL: 87). Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần lưu vào hồ sơ để lưu trữ.
- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11 Pro, màu đen có số Imei: 35 3240108033825, số Imei 2: 35 240107702750 có gắn sim số 0989.484.833. Đây là phương tiện N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước. 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đỏ, số Imei 1: 35 7002990247111, số Imei 2: 357002991247110 có gắn sim số 0777.881.688, tại phiên tòa bị cáo khai không sử dụng để gọi cho bà H1 để thực hiện hành vi phạm tội, là tài sản riêng của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- 01 áo thun có cổ, ngắn tay, màu xanh đậm, ngực trái có thêu biểu tượng ngành Công an và chữ “Bộ C1”, “Công an nhân dân” in hoa; 01 quần tây dài, màu xanh; 03 khẩu trang, màu xanh lá cây có phù hiệu Công an nhân dân bị cáo N khai đặt mua qua mạng xã hội; 01 (một) áo khoác tay dài, màu xám, phía sau có chữ “RBK"; 01 cặp có quai và dây đeo màu nâu. Đây là trang phục và các đồ vật N sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là trang phục của bị cáo mặc khi gây án, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tuyên tịch thu tiêu hủy.
Các vật chứng khác cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[7] Đối với hành vi Lý Văn N mặc áo thun có biểu tượng hình Công an và tặng khẩu trang có biểu tượng hình Công an cho bà Nguyễn Thị Kim H1 mục đích để tạo thông tin giả nhằm chiếm đoạt tài sản của bà H1. Do đó, hành vi của N không cấu thành tội “Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác”, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
Việc bà Nguyễn Thị Kim H1 chuẩn bị 50.000.000 đồng để đưa cho N, trước khi đưa bà H1 đã trình báo sự việc cho Công an P, quận B. Do đó, hành vi của bà H1 không cấu thành tội “Đưa hối lộ”, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
Đối với Hồ Xuân B, do Cơ quan điều tra chưa làm việc được với B để điều tra làm rõ việc B có hành vi cưỡng đoạt đối với Phan Nguyễn Trọng V trong việc đòi nợ V hay không, nên đề nghị Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ và xem xét xử lý sau.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Lý Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 18/9/2023.
- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- Lưu vào hồ sơ: 01 bản chính đơn tố cáo do Hồ Xuân B ký; 01 bản chính giấy hứa trả thù lao; 01 tờ giấy A4 ghi nhận thông tin người nhà của Phan Nguyễn Trọng V; 01 bản photo giấy nhận nợ; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Phan Nguyễn Trọng V. Đây là những tài liệu thu giữ của bị cáo Lý Văn N do N mang theo để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 10/9/2023; 01 tờ giấy có ghi nội dung: “số sê ri tiền, phía trên: tờ 1 PS20735786, tờ 2 XK18479510, tờ 3 DR19174271; phía dưới: tờ 1 CM 17668773, tờ 2 UH 15408352, tờ 3 DY15711669 là tờ giấy thu giữ từ ông Phan Công D thể hiện số sêri các tờ tiền trước khi bà H1 đưa tiền cho bị cáo Lý Văn N; 21 tờ giấy ghi nhận ảnh chụp màn hình điện thoại có nội dung trao đổi gữa bà H1 và tài khoản zalo tên “Em báo nợ” là nội dung tin nhắn qua zalo giữa bà H1 và Lý Văn N; 01 USB hiệu Kingston, màu đen, dung lượng 64 Gb, chứa các dữ liệu nội dung ghi âm cuộc trò chuyện giữa bà Nguyễn Thị Kim H1 và Lý Văn N thu giữ từ ông Phan Công D.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11 Pro, màu đen có số Imei: 35 3240108033825, số Imei 2: 35 240107702750 có gắn sim số 0989.484.833; tuyên trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đỏ, số Imei 1: 35 7002990247111, số Imei 2: 357002991247110 có gắn sim số 0777.881.688 cho bị cáo N.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun có cổ, ngắn tay, màu xanh đậm, ngực trái có thêu biểu tượng ngành Công an và chữ “Bộ C1”, “Công an nhân dân” in hoa; 01 quần tây dài, màu xanh; 03 khẩu trang, màu xanh lá cây có phù hiệu Công an nhân dân bị cáo N khai đặt mua qua mạng xã hội; 01 (một) áo khoác tay dài, màu xám, phía sau có chữ “RBK”; 01 cặp có quai và dây đeo màu nâu.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lý Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |
Bản án số 54/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 54/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
