TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HSST Ngày: 09-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Công – Giáo viên, phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo huyện Cần Giuộc
Ông Phạm Minh Hiếu – Phó chủ tịch liên đoàn lao động huyện Cần Giuộc.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị H, sinh ngày: 28/12/1969
Tên gọi khác: Y
Nơi thường trú: 106/10/4 Đ, Khu phố B, phường A, quận B, Tp .; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: nội trợ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L và bà Lê Thị N; Bản thân có chồng tên Nguyễn Văn T, có 06 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án – tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 100/HSST, ngày 17/11/2004, của Tòa án nhân dân Quận 6, Tp . xử phạt 09 (chín) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2009 (đã xóa án tích); Quyết định số 0017206/QĐ-XPHC, ngày 30/12/2015 của Công an xã T, huyện B, Tp . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với số tiền phạt 1.500.000 đồng (đã đóng phạt) và Quyết định số 0027864/QĐ-XPHC, ngày 30/11/2020, của Công an xã A, huyện B, Tp . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với số tiền phạt 1.500.000 đồng (đã đóng phạt). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Đặng Phạm Như Ý, sinh ngày: 13/3/2014
Người đại diện theo pháp luật cho bị hại có:
Phạm Thị Thúy H1, sinh năm: 1993 – Là mẹ (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Phan Thị Ngọc V, sinh ngày: 22/01/2013.
Người đại diện theo pháp luật cho bị hại có:
Phan Thị Kim L1, sinh năm: 1993 – Là mẹ (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Văn T, sinh năm: 1964 (có mặt).
Cư trú: 106/10/4 Đỗ Năng T1, Khu phố B, phường A, quận B, Tp ..
- Trương Thị Hoa H2, sinh năm: 1983 (vắng mặt).
Cư trú: 1048 Quốc Lộ A, phường T, quận B, Tp ..
- Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Cư trú: 33H Đường D, phường T, Quận A, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, Bùi Thị H điều khiển xe mô tô biển số 59P2-338.99 đến khu vực đường Đ thuộc Ấp C, xã P, huyện C thì gặp cháu Đặng Phạm Như Ý, sinh năm 2014 và cháu Phan Thị Ngọc V, sinh năm 2013 đang trên đường đi học và trên người có đeo vàng, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt vàng của hai cháu. Sau khi bắt chuyện làm quen, H chạy xe mô tô theo sau và nói “Có tội phạm vượt ngục đang lãng vãng ở khu vực này, tụi con tháo vàng ra cất đi” nên cháu V tháo 02 (hai) nhẫn vàng 18K đưa H gói vào giấy. Còn H dùng tay tháo 01 (một) dây chuyền vàng 18K trên cổ cháu Ý, gói vào giấy cùng 02 (hai) chiếc nhẫn của cháu V, rồi đưa gói giấy chứa vàng cho cháu V cất vàng vào cặp. H chạy xe theo sau gần tới cổng trường giả vờ cài cặp lại cho cháu V rồi lén lút lấy trộm số vàng bên trong. Sau khi trộm được vàng, H đi xe về nhà. Khoảng 17 giờ chiều cùng ngày, H mang 02 (hai) chiếc nhẫn cùng 01 (một) dây chuyền trộm được đến tiệm V1 của chị Trương Thị Hoa H2 thuộc Tỉnh lộ 10, gần chợ B, quận B, Tp . bán được số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) và đã tiêu xài cái nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C như sau: 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18K, trọng lượng 01 (một) chỉ, 02 (hai) nhẫn, loại vàng 18K, trọng lượng 04 (bốn) phân có giá trị là 6.076.000 đồng (sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSCG, ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Thị H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và đã chuyển Công an huyện C để xác minh xử lý 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Grande, màu xanh, biển số 59P2-338.99 do bị cáo H giao nộp (do chưa rõ nguồn gốc).
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn T (chồng của bị cáo H) tự nguyện thay H bồi thường 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) theo yêu cầu của bị hại, tại phiên tòa ông T không yêu cầu gì về số tiền này. Cơ quan cảnh sát điều tra trao trả bằng tiền mặt cho chị Phan Thị Kim L1 (mẹ bị hại V) số tiền 1.600.000 đồng và chị Phạm Thị Thúy H1 (mẹ bị hại Ý) số tiền 4.400.000 đồng. Hiện phía hai bị hại không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng, nhìn nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, tại khu vực đường Đ thuộc Ấp C, xã P, huyện C, bị cáo Hoa lợi dụng hai cháu Đặng Phạm Như Ý, sinh năm 2014 và Phan Thị Ngọc V, sinh năm 2013 là học sinh còn nhỏ tuổi, nên bị cáo đã lén lút lấy trộm của cháu Như Ý 01 (một) dây chuyền vàng 18K và cháu Ngọc V 02 (hai) nhẫn vàng 18K. Theo Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C: 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18K, trọng lượng 01 (một) chỉ, 02 (hai) nhẫn, loại vàng 18K, trọng lượng 04 (bốn) phân có giá trị là 6.076.000 đồng (sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng). Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo H phạm tội đối với hai người bị hại đều dưới 16 tuổi, là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội, nhưng đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: đã một lần bị tòa án đưa ra xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và hai lần bị công an xử phạt vi phạm hành chính đều về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[7] Đối với chị Trương Thị Hoa H2 là chủ tiệm V1 có hành vi mua vàng do bị cáo chiếm đoạt bán lại, nhưng do không biết tài sản do phạm tội mà có nên hành vi của chị H2 không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[8] Tang vật: quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Grande, màu xanh, biển số 59P2-338.99 do bị cáo H giao nộp, theo hồ sơ thể hiện xe mô tô do chị Nguyễn Thị Kim A là chủ sở hữu, nhưng chị Kim A trình bày là đã bán xe vào năm 2022. Hiện do Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác minh được nguồn gốc nên đã có Công văn số 206/ĐTTH, ngày 30/5/2024 chuyển cho Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý, là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn T (chồng của bị cáo H) tự nguyện bồi thường 6.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại, tại phiên tòa ông T không có yêu cầu, nên không xem xét. Đối với chị Phan Thị Kim L1, là mẹ bị hại Phan Thị Ngọc V đã nhận số tiền 1.600.000 đồng là giá trị hai chiếc nhẫn vàng 18K bị chiếm đoạt và chị Phạm Thị Thúy H1, mẹ bị hại Đặng Phạm Như Ý đã nhận số tiền 4.400.000 đồng là giá trị sợi dây chuyền vàng 18K bị chiếm đoạt. Tại phiên tòa phía gia đình hai bị hại vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/4/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (09/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND huyện Cần Giuộc; -CA huyện Cần Giuộc; -THA huyện Cần Giuộc; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ; -Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Cần Giuộc, ngày 09 tháng 7 năm 2024
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 9 giờ 30 phút ngày 09 tháng 7 năm 2024.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Công.
Ông Phạm Minh Hiếu.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS, ngày 26/6/2024 đối với bị cáo: Bùi Thị Hoa.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Hoa phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Bùi Thị Hoa 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/4/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (09/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 45 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA |
NGUYỄN THÀNH CÔNG – PHẠM MINH HIẾU | NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 54/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 54/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
