|
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 30/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa;
Ông Nguyễn Duy Cường.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hóa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Huấn - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 19/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù A T Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 03/9/1992;Tại: T, Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Bản Rừng Ổi K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lù A L, sinh năm 1959; con bà Phàn Thị Đ, sinh năm 1961. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Phàn Xà Ú, sinh năm 1995, con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Lù A T bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lù A L1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Bản R, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 14 giờ ngày 12/6/2024, Lù A T sinh năm 1992, trú tại bản Rừng Ổi K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 268.12 (Xe mô tô Tải mượn của ông L2 A L sinh năm 1967 trú cùng bản Rừng Ổi K, xã H, huyện T) đi từ nơi ở của mình đến thị trấn T, huyện T để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến bản Mường Mớ, thị trấn T, T gặp người đàn ông tên N khoảng 40 tuổi (Tải không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của N, chỉ biết tên người này là N) ở ven đường, qua trao đổi Tải nhờ N mua hộ H1 và đưa cho N 200.000 đồng, N đồng ý, cầm tiền T đưa N đi đâu, làm gì T không biết. Khoảng 10 phút sau N quay lại đưa cho T 01 gói Heroine được gói bằng hai lớp nilon màu hồng. Mua được Heroine T1 cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà còn N đi đâu, làm gì T1 không biết.
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 12/6/2024 Lù A T đi đến địa phận bản Rừng Ổi K, xã H, huyện T, T bị Công an xã H, huyện T dừng xe kiểm tra. Qua giải thích T đã khai nhận trong túi quần bên trái T đang mặc trên người có 01 gói Heroine Tải vừa mua được ở thị trấn T, huyện T với giá 200.000 đồng vào ngày 12/6/2024 và T tự nguyện lấy gói ma túy từ túi quần bên trái Tải đang mặc giao nộp; Công an xã H tiếp tục kiểm tra người Tải, thì phát hiện trong túi quần bên phải Tải đang mặc có 01 Heroine được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng. T khai nhận, gói Heroine này T mua của người đàn ông tên N nêu trên với giá 100.000 đồng vào ngày 11/6/2024 và T đã sử dụng một ít, số còn lại H1 còn lại Tải gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng cất giấu vào túi quần bên phải thì bị Công an xã H kiểm tra phát hiện.
Tại bản kết luận giám định số: 38/KLGĐ ngày 12/6/2024 của ông Phan Văn H2 - Người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lù A T có khối lượng là 0,143 gam (không phẩy một trăm bốn mươi ba gam). Thu giữ trong túi quần bên trái;Tại bản kết luận giám định số: 39/KLGĐ ngày 12/6/2024 của ông Phan Văn H2 - Người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lù A T có khối lượng là 0,016 gam (không phẩy không mười sáu gam). Thu giữ trong túi quần bên phải;
Tại bản kết luận giám định số: 745/KL-KTHS ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản kết luận giám định số: 748/KL-KTHS ngày 15 tháng 6 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKSTĐ, ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lù A T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lù A L trình bày: Chiếc xe mô tô, BKS: 25B1-268.12, nhãn hiệu YAMAHA, là tài sản của ông L, khi bị cáo Lù A T mượn xe đi ông L không biết bị cáo đi đâu làm gì, ông L đề nghị được nhận lại chiếc xe mô tô BKS 25B1-268.12, nhãn hiệu YAMAHA. Ngoài ra ông L không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lù A T từ 16 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 12/6/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy: Hai phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; mảnh nilon màu hồng, mảnh giấy bạc màu vàng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lù A T. Trả lại cho ông L2 A Lẻng: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25B1-268.12, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius màu đen - bạc.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lù A T và cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đối đáp: Đối với đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt của người bào chữa, Kiểm sát viên cho rằng với mức án mà Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với tính chất hành vi phạm tội, với nhân thân của bị cáo nên Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp có tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo Lù A T không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Lù A T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lù A T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại bản Rừng Ổi K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu. Lù A T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,159 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã H, huyện T bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Lù A T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; khi bị phát hiện bị cáo tự giác giao nộp 01 gói Heroine đang tàng trữ. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa, người bào chữa đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Xét thấy, mức án mà người bào chữa đề nghị chưa đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nên không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Đối với hai gói Heroine thu giữ của Lù A có tổng khối lượng 0,159 gam Heroine đã gửi toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Hai phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; mảnh nilon màu hồng, mảnh giấy bạc màu vàng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lù A T là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25B1-268.12, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius màu đen - bạc là tài sản hợp pháp của ông Lù A L1, quá trình điều tra xác định ông L1 không biết việc bị cáo Lù A T sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu.
[6] Những vấn đề liên quan:
- - Đối với người đàn ông tên N mua Heroine hộ T, T khai nhận chỉ biết tên người này là N, không biết họ, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ và xử lý trong cùng vụ án.
- - Đối với ông Lù A L1 sinh năm 1967 trú tại bản Rừng Ổi K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu là người cho T mượn xe mô tô biển kiểm soát 25B1 - 268.12. Việc T sử dụng xe mô tô đi mua Heroine, Lù A hoàn toàn không biết nên Lù A L1 không đồng phạm với Lù A T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
[7] Về án phí:
Tại phiên tòa, bị cáo Lù A T đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xét thấy, gia đình bị cáo Lù A T thuộc hộ nghèo theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lù A T thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lù A T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/6/2024.
- Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: Hai phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; mảnh nilon màu hồng, mảnh giấy bạc màu vàng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lù A T.
Trả lại cho ông L2 A Lẻng: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-268.12, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius màu đen - bạc.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
- Về án phí: Bị cáo Lù A T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lù A T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
