Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Ngọc Cường;

2. Bà Nguyễn Thị Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên xét xử: Ông Đoàn Xuân Chanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. 1. Võ Thị N, sinh năm: 1974; nơi thường trú: thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hữu P và bà Nguyễn Thị B (đều đã chết); gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; chồng là Lê Huy D, sinh năm 1972 và có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến ngày 01/02/2024; hiện tại ngoại; có mặt.
  2. 2. Phạm Văn S, sinh năm: 1993; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến ngày 08/01/2024; hiện tại ngoại; có mặt.
  3. 3. Phạm Văn K, sinh năm: 1982; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Hoàng Thị D1 (đều đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44 ngày 10/5/2012 của Công an huyện (nay là thị xã) Thuận Thành xử phạt Phạm Văn K 2.000.000đ về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 10/5/2012, K đã chấp hành xong hình phạt; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến ngày 08/01/2024; hiện tại ngoại; có mặt.
  4. 4. Trần Văn T, sinh năm: 1993; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị B1, sinh năm 1970; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ là Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến ngày 01/02/2024; hiện tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17h50’ và 17h58’ ngày 12/12/2023, tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B kiểm tra, bắt quả tang tại 02 tụ điểm gồm:

Tại nhà của Phạm Văn K: Bắt quả tang K đang có hành vi nhận số lô, số đề để qua tin nhắn Zalo của Phạm Văn S, sinh năm 1993. Thu giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K màu đỏ.

Tại nhà của Phạm Văn S: Bắt quả tang S đang có hành vi chuyển các số lô, số đề (đã bán được cho người chơi) cho Vũ Thị N, sinh năm 1974. Thu giữ của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng.

Đến 20h25’ và 21h ngày 12/12/2023, Vũ Thị NTrần Văn T, sinh năm 1993 đến Cơ quan công an đầu thú.

Quá trình đấu tranh cùng các tài liệu là các tin nhắn Zalo thu giữ được, các đối tượng khai nhận: Khoảng đầu tháng 12/2023, qua mối quan hệ xã hội, Vũ Thị N có quen biết với Phạm Văn S, Phạm Văn K và thỏa thuận N đứng ra làm “Chủ đề”, S, K làm “Thư ký ghi lô đề” cho N để hưởng phần trăm hoa hồng. S, K đồng ý. Sau đó, S đã thỏa thuận với Trần Văn T bán số lô, số đề cho những người chơi (làm thư ký đề) rồi chuyển các bảng cáp đề bán được cho S để hưởng phần trăm theo thỏa thuận. Ngoài ra, biết K cũng làm thư ký đề nên S đã thỏa thuận chuyển thêm một phần số lô, số đề cho K.

Trong quá trình nhận và chuyển các số lô, số đề, các đối tượng thống nhất chuyển qua tin nhắn Zalo. Các tài khoản Zalo mà các đối tượng sử dụng gồm: của S là “Mô Phật” đăng ký bằng số điện thoại 0399.212.xxx, đăng nhập trên điện thoại Iphone 12 Pro; của K là “S” đăng ký bằng số điện thoại 0901.508.xxx, đăng nhập trên điện thoại Oppo A1K; của N là “Bằng Lăng”, đăng ký bằng số điện thoại 0922.090.xxx, đăng nhập trên điện thoại Samsung A8+; của T là “Titok”, đăng ký bằng sim rác (Tập không nhớ số điện thoại), đăng nhập trên điện thoại Iphone 6. Hàng ngày, sau khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng (bắt đầu lúc 18h15, kết thúc lúc 18h30), các đối tượng sẽ đối chiếu, so sánh các số lô, số đề rồi tính toán thắng thua với nhau bằng tiền mặt vào ngày hôm sau.

Ngày 12/12/2023, hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc của các đối tượng thể hiện cụ thể như sau:

  1. Hành vi đánh bạc của Trần Văn T

    Trần Văn T là thư ký ghi số lô, số đề của S. Tập bán cho người chơi với giá số đề, lô xiên = 100%, 1 điểm lô = 22.000đ. Ngày 12/12/2023, T bán cho những người chơi tính theo nguyên giá được số tiền đề là 2.240.000đ, tiền số lô xiên 2 là 1.050.000đ và tiền lô là: (570 điểm x 22.000đ) = 12.540.000đ. Số tiền T thu được của người chơi là (2.240.000đ + 1.050.000đ + 12.540.000đ) = 15.830.000đ. Toàn bộ các số lô, số đề bán được, T dùng tài khoản Zalo “Titok” của mình chuyển hết bảng 11 tin nhắn đến tài khoản Zalo “Mô Phật” của S theo thỏa thuận với số tiền là 15.020.000đ, để hưởng phần trăm hoa hồng là 810.000đ.

  2. Hành vi tổ chức đánh bạc của Phạm Văn S

    Phạm Văn S là thư ký ghi số lô đề của KN. S bán cho người chơi với giá số đề, lô xiên = 100%, 1 điểm lô = 22.000đ. Ngày 12/12/2023, S bán cho những người chơi tính theo nguyên giá được số tiền đề Giải Đặc biệt là 3.280.000đ, tiền đề giải Nhất là 2.920.000đ và tiền lô là (2.210 điểm x 22.000đ) = 48.620.000đ. Số tiền S thu được của người chơi là: (3.280.000đ + 2.920.000đ + 48.620.000đ) = 54.820.000đ. Toàn bộ các số lô, số đề bán được, S dùng tài khoản Zalo “Mô Phật” của mình chuyển theo thỏa thuận cho N là 27.001.000đ; chuyển cho K là 26.160.000đ, để hưởng phần trăm hoa hồng là 1.659.000đ.

    Ngoài ra, S còn dùng tài khoản Zalo “Mô Phật” nhận 2.240.000đ tiền đề, 1.050.000đ tiền số lô xiên 2 và 570 điểm lô do T chuyển đến bằng 11 tin nhắn từ tài khoản Zalo “Titok” của Trần Văn T. Sau khi nhận tin nhắn, S xác nhận lại bằng cách thả tim (♥) ở tin nhắn sau cùng. Theo thỏa thuận, S nhận của T giá số đề = 83%, lô xiên 2 = 70%, 1 điểm lô = 21.800đ. Tạp phải chuyển cho S số tiền là: [2.240.000đ (đề) x 83% + 1.050.000đ (lô xiên 2) x 70% + 570 (điểm lô) x 21.800đ] = 15.020.200đ. S chưa kịp chuyển các số lô, số đề này cho NK để hưởng phần trăm hoa hồng thì bị bắt quả tang.

  3. Hành vi tổ chức đánh bạc của Phạm Văn K

    Phạm Văn K là thư ký ghi số lô đề của N. Ngày 12/12/2023, K sử dụng tài khoản Zalo “Sài Gòn X” nhận 1.200 điểm lô do S chuyển đến bằng 01 tin nhắn từ tài khoản Zalo “Mô Phật” (K đã đổi tên gọi nhờ thành “Xàm.Chensi). Sau khi nhận được tin nhắn, K xác nhận bằng cách nhắn lại “Ok”. Theo thỏa thuận, K nhận của S 1 điểm lô = 21.800đ. S phải chuyển cho K số tiền: [1.200 (lô) x 21.800đ] = 26.160.000đ. K đang chuẩn bị chuyển các số lô này cho N theo thỏa thuận trước đó với giá 1 điểm lô = 21.700đ để hưởng phần trăm hoa hồng. Tuy nhiên, K chưa kịp chuyển các số lô này cho N thì bị bắt quả tang.

  4. Hành vi tổ chức đánh bạc của Vũ Thị N

    Ngày 12/12/2023, N sử dụng tài khoản Zalo “Bằng Lăng” nhận 3.280.000đ tiền đề giải Đặc biệt; 2.920.000đ tiền đề giải Nhất và 1.010 điểm lô do S chuyển đến bằng 04 tin nhắn từ tài khoản Zalo “Mô Phật”. Sau khi nhận được tin nhắn, N xác nhận bằng cách nhấn các số thứ tự: 1, 2, 3, 4 sau mỗi tin nhắn của S. Theo thỏa thuận, N nhận của S giá số đề (giải Nhất, Giải Đặc biệt) là 82%; giá số lô là 1 điểm lô = 21.700đ. S phải chuyển cho N số tiền là: [(3.280.000đ (Đặc biệt) + 2.920.000đ (đề giải Nhất)) x 82% + 1.010 (điểm lô) x 21.700đ] = 27.001.000đ. Khi các thư ký chuyển các số lô đề đến thì N giữ lại và không chuyển cho ai khác.

    Do SK bị bắt trước khi có kết quả xổ số miền B1, T là thư ký ghi số lô đề cho người chơi nhưng số tiền dưới 20.000.000đ nên T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với số tiền là 15.830.000đ. Số tiền tổ chức đánh bạc của K là: 26.160.000đ; của N là: 27.001.000đ; của S là: [54.820.000đ + 15.020.200đ] = 69.840.200đ. Đến nay, S, T đã thu được số tiền bán số lô đề cho người chơi. S, N, K, T chưa thanh toán số tiền lô đề cho nhau.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSBN-P2 ngày 04/4/2024 của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn SPhạm Văn K về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” bị cáo đã thực hiện đúng luật hình sự.

Tại phiên tòa, cả 04 bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn SPhạm Văn K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

  • - Vũ Thị N từ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 20 đến 25 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước.
  • - Phạm Văn S từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 20 đến 25 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước.
  • Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Văn K từ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 20 đến 30 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước.
  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn T từ 25 đến 30 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Oppo thu giữ của K; 01 điện thoại Iphone 12 thu giữ của S. Buộc Phạm Văn S nộp lại 54.820.000 đồng; Trần Văn T nộp lại 15.830.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc để sung Ngân sách nhà nước.

Các bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn S, Phạm Văn KTrần Văn T đều nhất trí với nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu tháng 12/2023, Vũ Thị N đứng ra tổ chức đánh bạc bằng hình thức chơi số lô, số đề (làm chủ đề). N đã thỏa thuận với Phạm Văn S, Phạm Văn K bán số lô, số đề cho những người chơi (làm thư ký đề cho N) sau đó chuyển các bảng cáp đề bán được cho N qua Zalo để hưởng phần trăm theo thỏa thuận. Ngoài ra, S thỏa thuận với K, T về việc T chuyển số lô, số đề ghi được hàng ngày cho S để S chuyển cho K hoặc N để hưởng phần trăm hoa hồng. Vào hồi 17h50’ và 17h58’ ngày 12/12/2023, tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, khi S, K đang nhận, chuyển các số lô, số đề tại nhà qua tin nhắn Zalo thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định, số tiền tổ chức đánh bạc của Phạm Văn S là: 69.840.200đ, hưởng lợi 1.659.000đ; Vũ Thị N là: 27.001.000đ; Phạm Văn K là: 26.160.000đ; Trần Văn T là: 15.830.000đ, hưởng lợi 810.000đ.

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn SPhạm Văn K đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét vai trò đồng phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò chính là bị cáo Vũ Thị N - chủ lô, đề; vai trò giúp sức là Phạm Văn S, Phạm Văn K - thư ký lô, đề; vai trò giúp sức cuối cùng là Trần Văn T - thư ký lô, đề cho S. Do đó, khi quyết định hình phạt cũng cần có hình phạt tương xứng với vai trò đồng phạm của từng bị cáo đã thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng: Cả 04 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt; riêng bị cáo Phạm Văn K năm 2012, đã bị xử phạt hành chính 2.000.000đ về hành vi “Đánh bạc” bị cáo đã tự thực hiện xong việc nộp phạt từ năm 2012.

Về tình tiết giảm nhẹ: Cả 04 bị cáo quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị hưởng giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vũ Thị N sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú, đã ủng hộ quỹ vì người nghèo xã Đ 500.000 đồng nên N được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Văn K có công tố giác tội phạm ma túy được Công an phường S, thị xã T xác nhận; tích cực ủng hộ Quỹ vì người nghèo của địa phương; có bố là ông Phạm Văn C tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra cơ quan Công an đầu thú nên T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Văn S trước khi xét xử đã nộp 15.200.000 đồng khắc phục hậu quả, bị cáo tích cực ủng hộ 1.000.000 đồng cho quỹ vì người nghèo của Mặt trận tổ quốc xã Đ, thị xã T nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy các bị cáo N, S đều có nhân thân tốt, bị cáo K mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc nhưng từ năm 2012 đến nay đã hơn 10 năm, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền các bị cáo tổ chức đánh bạc không lớn. Do vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn SPhạm Văn K cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội. Riêng bị cáo Trần Văn T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên chỉ cần xử phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp. Do các bị cáo N, S, K phạm tội với mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng phạt bổ sung, buộc các bị cáo nộp một khoản tiền sung Ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo T đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đối với 01 điện thoại Oppo thu giữ của K; 01 điện thoại Iphone 12 thu giữ của S, các bị cáo đều dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền các bị cáo tổ chức đánh bạc đã chưa thanh toán với nhau nên cần buộc Phạm Văn S nộp lại 54.820.000đ; Trần Văn T nộp lại 15.830.000đ sung Ngân sách Nhà nước.

[5]. Những vấn đề khác: Liên quan trong vụ án có những người đã mua số lô, số đề của T, S. Do các bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, quá trình điều tra, các bị cáo còn khai nhận bằng phương thức tương tự, những ngày trước đó có tổ chức ghi số lô, đề của người chơi nhưng không nhớ ngày nào, bao nhiêu lần, từng lần là những số lô, số đề nào, tổng số tiền là bao nhiêu. Sau khi thanh toán với nhau đều đã xóa hoặc thu hồi tin nhắn nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc điện thoại Samsung A8+ của N và chiếc điện thoại Iphone 6 của T dùng vào việc phạm tội. Sau khi biết SK bị bắt. NT đã vứt các điện thoại đi, không nhớ vứt ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành khám xét và ra quyết định truy tìm tuy nhiên đến nay chưa tìm được, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn SPhạm Văn K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

    Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

    • - Vũ Thị N 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước.
    • - Phạm Văn S 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo S đã nộp 15.200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000220 ngày 22/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
    • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Văn K 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước.
    • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn T 25 (Hai lăm) triệu đồng.

    Giao bị cáo Vũ Thị N cho Ủy ban nhân dân xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao các bị cáo Phạm Văn SPhạm Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K màu đỏ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu vàng đã qua sử dụng. (Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 76/2024 ngày 05/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

  3. Buộc bị cáo Phạm Văn S phải nộp lại 54.820.000 đồng; Trần Văn T phải nộp 15.830.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Thị N, Phạm Văn S, Phạm Văn KTrần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT (PC 02) - PY 27 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Nguyệt Đức, xã Đình Tổ;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "tổ chức đánh bạc"

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Tổ chức đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị N và đồng phạm - Tổ chức đánh bạc; Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger