TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 24/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà: Lê Thị Mai Hà.
Bà: Nguyễn Mai Phương.
Thư ký phiên toà: ông Lê Thanh Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hòe - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/HSST ngày 04/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn M; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/9/1972 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: xóm Đ, xã G, huyện T, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/1; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Thổ; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Văn H (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1944; vợ: Trương Thị L, sinh năm: 1972; con: Có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Bùi Văn M hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 15/4/2024; có mặt.
- Bị hại: anh Trương Minh H1, sinh năm 1982; trú tại: Xóm Đ, xã G, T, Nghệ An; có mặt.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Như K, sinh năm 1973; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh L1, sinh năm: 1974; vắng mặt.
- Anh Bùi Văn B1, sinh năm: 1977; có mặt.
- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1973; vắng mặt.
- Võ Văn T1, sinh năm 1978; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình N, sinh năm 1987; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1977; có mặt.
- Chị Trương Thị H2, sinh năm 1990; vắng mặt.
Đều trú tại: Xóm Đ, xã G, T, Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 30/3/2024, anh Trương Minh H1 và Bùi Văn M đến nhà anh Nguyễn Như K, trú tại xóm Đ, xã G, T, Nghệ An để nộp tiền phường và uống rượu. Trong khi ngồi uống rượu thì anh H1 và M ngồi cùng mâm với anh Nguyễn Thanh L1; Bùi Văn B1; Nguyễn Thanh T; Trương Văn H3 và anh Nguyễn Thanh H4. Khoảng 30 phút sau giữa Trương Minh H1 và Bùi Văn M có xảy ra mẫu thuẫn cãi nhau. Trong lúc cãi nhau, anh H1 đã cầm 01 (một) chiếc chai nhựa đựng rượu đứng dậy phía bên trái ngang với người Bùi Văn M đánh một cái trúng vào giữa trán của M. Thấy vậy những người ngồi trong mâm rượu đã vào can ngăn hai người. Sau đó anh H1 đứng dậy bỏ về và M cũng điều khiển xe mô tô đi về. Do bực tức trước việc bị anh H1 đánh nên khi về nhà Bùi Văn M đã đi vào khu vực bếp lấy 03 (ba) con dao nhọn (hay thường gọi là dao bầu mà hàng ngày thường sử dụng để mổ làm thịt lợn) đang dắt ở trên tường rồi tiếp tục điều khiển chiếc xe máy hãng Honda, mang nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 37N1.479.31 đi đến nhà anh Trương Minh H1 với mục đích tìm anh H1 để chém. Đến 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi Bùi Văn M đi đến trước nhà anh H1 thì thấy anh H1 lúc này đang đứng cùng với anh Bùi Văn B1 (là em trai của M) nên Bùi Văn M liền quăng xe bên đường rồi cầm cả ba con dao lao đến chỗ anh H1 đang đứng. Thấy vậy, anh Bùi Văn B1 lập tức chạy lại để can ngăn. Trong lúc can ngăn thì anh B1 có cầm một chiếc ghế nhựa đập vào tay M làm ba con dao bị rơi xuống. Lúc đó, Bùi Văn M tiếp tục cúi xuống nhặt lên hai con dao cầm trong hai tay rồi đuổi anh H1 chạy lòng vòng phía trước nhà của anh H1 để chém. Lúc đó, một số người dân xung quanh đã la hét để ngăn cản anh H1 và Bùi Văn M. Trong khi bị Bùi Văn M đuổi chém thì anh H1 có cầm một chiếc ghế nhựa ném về phía Mận để tự vệ. Sau khi ném ghế xong thì anh H1 bỏ chạy trên đường T theo hướng từ xã G ra xã N, huyện T. Lúc đó, Bùi Văn M tiếp tục cầm hai tay hai con dao đuổi theo anh H1 để chém. Chạy được khoảng 20 mét thì anh H1 bị trượt chân ngã ngửa nằm dọc xuống mương thoát nước phía bên phải đường theo hướng chạy. Thấy vậy, Bùi Văn M chạy đến vị trí anh H1 đang bị ngã đứng cúi người đang chân sang hai bên mép mương thoát nước phía dưới chân của anh H1 rồi dùng cả hai con dao đang cầm trên hai tay chém anh H1 từ trên xuống dưới nhưng chỉ có một nhát chém từ con dao Bùi Văn M đang cầm trong tay phải trúng vào người của anh H1. Khi bị M chém trúng thì anh H1 nói với M “Anh đừng có chặt em nữa” và có dùng chân đạp trúng người Bùi Văn M để ngăn cản nên M dừng lại không chém anh H1 nữa. Sau đó, Bùi Văn M đã quay lại lấy chiếc xe mô tô của mình rồi điều khiển đi về nhà. Còn anh H1 được người dân đưa đi sơ cứu tại Trung tâm y tế huyện T, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ để điều trị. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã G đã đến yêu cầu Bùi Văn M lên trụ sở Công an xã để làm việc. Quá trình làm việc thì Bùi Văn M đã tự nguyện giao nộp ba con dao có liên quan đến vụ việc, trong đó có một con dao Mận đã dùng để chém gây thương tích cho anh Trương Minh H1 cho Cơ quan Công an để điều tra, làm rõ.
Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể của anh Trương Minh H1 lập vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 31/3/2023 thể hiện: “01 vết thương mặt trong cẳng tay phải kích thước (7x5x 3cm); đứt bó mạch thần kinh trụ, đứt khối cơ trụ trước và cơ gấp các ngón”; “01 vết thương1/3 xây xước trên cẳng tay phải kích thước 2,5x2cm.
- Ngày 04/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 424/QĐ-CSĐT để xác định tỷ lệ thương tích trên cơ thể Trương Minh H1 do Bùi Văn M gây ra. Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 160/TTPY ngày 05/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trương Minh H1 do thương tích gây nên hiện tại là: 15% (Mười lăm phần trăm).
- Ngày 28/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số: 570/QĐ-CSĐT để xác định tỷ lệ thương tích trên cơ thể Trương Minh H1 do Bùi Văn M gây ra. Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 248/KLTTCT-TTPYNA ngày 28 tháng 06 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trương Minh H1 do thương tích gây nên hiện tại là: 24% (Hai mươi tư phần trăm).
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Bùi Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKSTK ngày 3 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã truy tố bị cáo Bùi Văn M, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt Bùi Văn M mức án từ 27 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 54 đến 60 tháng. Thả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn M đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại do cho anh Trương Minh H1 với số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Anh H1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tiêu hủy: 03 (một) con dao. 01 (một) chiếc ghế nhựa. 01 (một) chai nhựa hình bầu dục màu nâu.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ.
Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn M phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo, bị hại không có tranh luận gì. Bị cáo Bùi Văn M có lời nói sau cùng: Bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội. Bị cáo thật sự rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Trương Minh H1 không yêu cầu bị cáo M bồi thường thêm khoản nào, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Bùi Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, của người làm chứng, phù hợp với vật chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 30/3/2024 tại đoạn đường Tỉnh lộ 534D theo hướng từ xã G ra xã N, huyện T trước khu vực nhà Trương Minh H1. Do có mâu thuẫn trước đó mà Bùi Văn M đã dùng 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 37cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại có chiều dài, rộng và hẹp 25x6x2cm. Đầu mũi dao nhọn, một cạnh lưỡi dao sắc gọn. Cán dao làm bằng gỗ màu nâu chiều dài và đường kính 12x03cm chém một nhát từ trên xuống dưới trúng mặt trong cẳng tay phải của anh Trương Minh H1 gây tổn hại sức khỏe cho anh H1, với tỷ lệ thương tích là: 24% (Hai mươi tư phần trăm).
Như vậy: Hành vi trên đây của bị cáo Bùi Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Bùi Văn M có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức được việc dùng dao chém vào cánh tay của anh Trương Minh H1, gây thương tích cho anh H1 là xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của anh H1 nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Nhưng xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại. Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của HĐTP TANDTC Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo, cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ nghiêm.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn M đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Trương Minh H1 với số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), tại phiên tòa hôm nay bị hại anh Trương Minh H1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[7] Về vật chứng vụ án gồm: 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 37 cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại dài 25 cm. 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 36 cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại dài 25 cm. 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 34 cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại dài 21 cm. 01 (một) chiếc ghế nhựa nhãn hiệu VIET NHAT PLASTIC màu xám. 01 (một) chai nhựa hình bầu dục màu nâu, trên vỏ chai có in chữ: “Cưới hỏi trọn gói”, “NHÀ HÀNG SONG HỶ”, “0967.657.055”, “Hân hạnh phục vụ quý khách”, là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 54 (Năm Mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/7/2024). Về tội “Cố ý gây thương tích”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Giao bị cáo Bùi Văn M về cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 bộ luật hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- - Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- - Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- - Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điều Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 37 cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại dài 25 cm. 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 36 cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại dài 25 cm. 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể 34 cm, lưỡi dao màu đen làm bằng kim loại dài 21 cm. 01 (một) chiếc ghế nhựa nhãn hiệu VIET NHAT PLASTIC màu xám. 01 (một) chai nhựa hình bầu dục màu nâu, trên vỏ chai có in chữ: “Cưới hỏi trọn gói”, “NHÀ HÀNG SONG HỶ”, “0967.657.055", “Hân hạnh phục vụ quý khách”, là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Nơi nhận:
| T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa | |
Nguyễn Mai Phương | Lê Thị Mai Hà | Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 24/07/2024
