Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hùng, bà Nguyễn Thị Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/HSST ngày 02-8-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/QĐXXST- HS ngày 08-8-2024 tại hai điểm cầu:

- Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an thành phố Y.

Đối với bị cáo: Phạm Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 6 năm 1986 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1, sinh năm: 1962 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1960; vợ: Triệu Thị N, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 20/2018/HS-ST ngày 28-10-2018. Bị cáo bị tạm giữ ngày 04-6-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phạm Dũng H; sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Anh Phạm Khánh H1; sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

* Người chứng kiến: Anh Lê Xuân H2; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn C, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

* Những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

- Người tiến hành tố tụng khác:

+ Bà Phạm Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

+ Ông Nguyễn Tiến Giang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Lương Mạnh Hưng- Cán bộ cơ sở giam giữ Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là người nghiện chất ma túy loại heroine. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04-6-2024, T gặp Phạm Khánh H1 tại quán nước đầu cầu Y thuộc địa phận tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Do có nhu cầu sử dụng trái phép ma túy nên T và H1 rủ nhau góp tiền đi mua ma túy heroine để sử dụng. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 21B2-330.24 chở T đi vào xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái để tìm mua heroine. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì T và H1 đến nơi. Tại khu vực ven đường dân sinh thuộc địa phận xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái, T và H1 gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua nói chuyện thì biết người này có heroine để bán nên T và H1 góp mỗi người 100.000 đồng để mua. T đưa cho người đàn ông này số tiền 200.000 đồng, người đàn ông này cầm tiền rời đi khoảng 10-15 phút thì quay lại đưa cho T 02 gói heroine đều được gói bằng nilon màu xanh, hàn kín. Sau khi mua được heroine, T đưa cho H1 01 gói, T giữ lại 01 gói. Sau đó, T và H1 mỗi người tự tìm chỗ ở khu vực ven đường để sử dụng trái phép heroine. H1 đã sử dụng hết gói heroine của mình bằng hình thức tiêm chích, T mở gói Heroine của mình ra thì thấy bên trong có 02 gói nhỏ được gói bằng nilon màu xanh, hàn kín. T lấy 01 gói ra sử dụng hết một nửa bằng hình thức tiêm chích, một nửa còn lại T gói lại bằng nilon màu xanh như cũ, rồi cho cả 02 gói vào 01 vỏ túi nilon đựng xilanh và hàn lại cầm ở tay trái. Khi sử dụng trái phép heroine thì T và H1 đứng cách xa nhau khoảng 15 mét, không ai biết ai sử dụng heroine như thế nào. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô chở theo T đi về thành phố Y, tỉnh Yên Bái khi đến khu vực cổng bến xe Nước Mát thuộc địa phận thôn N, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái thì bị Cơ quan Công an phát hiện và tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Phạm Văn T đã thả từ tay trái xuống nền đường 01 gói nilon (loại vỏ túi đựng xilanh) được hàn kín, bên trong nghi chứa chất ma túy, T khai nhận là heroine. Ngay sau đó, T đã tự giác nhặt gói ma túy này lên giao nộp cho Cơ quan Công an.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn T gồm: 01 gói nilon (loại vỏ túi đựng xilanh) được hàn kín, bên trong nghi chứa chất ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại phím bấm, màu đen. Tạm giữ của Phạm Khánh H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE màu đỏ - đen, mang BKS: 21B2-330.24.

Tại Bản kết luận giám định số: 329/KL-KTHS ngày 09-6-2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

  • - Chất bột nén màu trắng do Phạm Văn T tự giác giao nộp khi bắt quả tang có tổng khối lượng là 0,15 gam.

  • 0,08 gam trích từ 0,15 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại heroine.

Cáo trạng số 58/CT-VKS-TP ngày 01-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,07 gam ma túy, loại heroine; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; các mảnh nilon gói.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại phím bấm, màu đen đã qua sử dụng.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy

định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 04-6-2024, tại khu vực cổng bến xe Nước Mát thuộc thôn N, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,15 gam ma túy heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo Phạm Văn T theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi đó gây tác hại trước hết cho chính bản thân bị cáo, làm hủy hoại sức khỏe, mất khả năng lao động, tiêu hao tiền bạc, gây xáo trộn và tổn thất về tình cảm gia đình bị cáo. Ma túy gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh, thúc đẩy gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hiểu rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện.

Bị cáo Phạm Văn T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Năm 2018, bị cáo xử phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Năm 2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Bị cáo không lấy đây làm bài học để cảnh tỉnh bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện là rất kém. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Do đó cần xem xét cho bị

cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y tiến hành lập tại Công an xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái ngày 05-6-2024 và Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái ngày 10-6-2024. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình, không có thu nhập cá nhân, không có tài sản chung và riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về các hành vi, người và các đồ vật liên quan khác:

  • - Đối với Phạm Khánh H1, quá trình điều tra xác định: Sau khi cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng, H1 không biết T sử dụng trái phép chất ma túy như thế nào. Khi H1 điều khiển xe mô tô chở T từ xã H, huyện T về thành phố Y, H1 cũng không biết T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐXPHC-ĐCSMT ngày 19-6-2024 đối với Phạm Khánh H1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

  • - Đối với chiếc 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, mang BKS: 21B2-330.24, màu đỏ - đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Phạm Khánh H1: Quá trình điều tra đã xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Dũng H (em trai Phạm Khánh H1). Anh H không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T. Ngày 19-6-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã trao trả chiếc xe trên cho anh H theo Quyết định xử lý vật chứng số 567/QĐ-ĐCSMT là phù hợp.

  • - Về nguồn gốc số heroine bị thu giữ, Phạm Văn T khai nhận mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở khu vực xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái vào ngày 04-6-024. Do T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không có cơ sở để xác minh, xử lý trong vụ án này.

[7] Về vật chứng:

  • - Đối với số ma túy thu giữ khi bắt quả tang bị cáo T, cơ quan điều tra đã sử dụng giám định hết 0,08 gam nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn lại 0,07 gam ma túy loại heroine được niêm phong (sau khi đã trích mẫu giám định) cần tịch thu để tiêu hủy.

  • - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại phím bấm, màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim có số thuê bao: 0359.885.162 tạm giữ của bị cáo T: Quá trình điều tra đã xác định đó là tài sản hợp pháp của T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 vỏ phong bì; các mảnh nilon gói: Xét đây là các đồ vật có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04-6-2024.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 0,07 gam ma túy heroine thu giữ của bị cáo Phạm Văn T được niêm phong trong 01 phong bì do phòng K - công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng do Phạm Văn T tự giác giao nộp khi bắt quả tang ngày 04/6/2024 (Sau khi trích mẫu giám định)”. Mặt sau phong bì các mép được dán kín và có họ tên, chữ ký của Lê Vũ L, Phùng Văn D, Nguyễn Quang H5, Nguyễn Đức P1, Phạm Văn T và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của phòng K- Công an tỉnh Y.

  • - 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; các mảnh nilon gói.

3.2. Trả lại cho: Bị cáo Phạm Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 354275388909855, lắp sim số: 0359.885.162.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-8-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình

sự:

Bị cáo Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND TP,
  • - Công an TP; HSNV;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - Bị cáo (1);
  • - Người có QLNVLQ (2);
  • - Lưu HS, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04-6-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger