Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Luyện

Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Tuyến

Ông Lý Thành Đạt

Bà Nguyễn Thị Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Tuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2024/HSST-QĐ ngày 23/5/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 112/TB-TA ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn T, sinh năm 1990, tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972, có vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989 và có 01 con, sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đình Đ – Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

* Bị hại:

  1. Anh Cao Văn H2, sinh năm 2000 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
  2. Anh Nguyễn Thọ H3, sinh năm 1984 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Anh Trần Văn Q, sinh năm 1983 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  4. Anh Triệu Văn M, sinh năm 1987.
    Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn .
  5. Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1980 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  6. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1976 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang .
  7. Anh Nguyễn Mạnh H4, sinh năm 1976 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn E, xã Q, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
    Địa chỉ Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Phạm Văn T4, sinh năm 1962 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn Phúc Thành, xã Quý Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  3. Chị Phạm Thị C, sinh năm 1977.
    Địa chỉ : Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  4. Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (có mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  1. Anh Đỗ Xuân M1, sinh năm 1979 (vắng mặt)..
    Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Giáp Huy T5, sinh năm 1990 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số B, ngách E, Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.
  3. Anh Vi Văn S, sinh năm 1985 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
  4. Anh Đặng Văn T6, sinh năm 1975 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Anh Bàng Văn T7, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  6. Anh Đặng Văn T8, sinh năm 1995 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn.
  7. Anh Triệu Quý V, sinh năm 1991 (vắng mặt).
    Địa chỉ:Thôn H, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  8. Anh Triệu Đức X, sinh năm 1976 (vắng mặt).
    Địa chỉ:Thôn H, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn T, sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã Q, huyện L làm nghề khai thác gỗ, buôn bán sang nhượng rừng và gỗ keo trên địa bàn huyện L. Cuối tháng 4/2023, do việc làm ăn gặp khó khăn, thua lỗ, bản thân lại cần tiền để ăn chơi, chi tiêu cá nhân, Đỗ Văn T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác bằng cách đăng thông tin không đúng sự thật trên mạng xã hội Facebook và Z qua nhóm “Hội khai thác gỗ keo” với nội dung T có rừng gỗ keo đã đến tuổi thu hoạch cần bán, ai có nhu cầu thì liên hệ với T qua số điện thoại của T là 0382.490.xxx và 0343.349.171 (thực tế T không có rừng keo để bán như thông tin đăng). Sau đó, người mua rừng đã liên hệ, đến xem rừng và đặt cọc tiền cho T rồi bị T chiếm đoạt. Bằng hình thức trên, trong thời gian từ ngày 01/5/2023 đến ngày 20/5/2023, Đỗ Văn T đã nhận tiền đặt tiền cọc của 07 (bảy) người và chiếm đoạt tổng số tiền 750.000.000 đồng (bảy trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể như sau:

  1. Chiếm đoạt của anh Cao Văn H2, sinh năm 2000, trú tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn số tiền 20.000.000 đồng.

    Sau khi thấy bài đăng thông tin bán rừng gỗ keo của T trên mạng xã hội Facebook thì anh H2 có nhắn tin liên hệ và kết bạn Zalo với T. Ngày 30/4/2023, anh H2 đến gặp T để đi xem rừng. T đưa anh H2 vào khu vực đập Thum thuộc thôn B, xã Q, huyện L xem rừng keo (đây là rừng keo của Công ty TNHH H7 giao khoán cho bố, mẹ T). Anh H2 có hỏi về giấy tờ thì T nói dối đây là đất lâm nghiệp đang chuyển đổi thành đất trồng cây lâu năm và giấy tờ đang để trên huyện và nói diện tích rừng này là của Phạm Văn T4, sinh năm 1962 ở cùng thôn với T đã giao cho T đứng ra bán giúp. Sau đó, T gặp ông T4 và nói với ông T4, đây là rừng của gia đình T, bố T không có nhà, đã uỷ quyền cho T bán và nhờ ông T4 đứng ra nhận là chủ rừng, chứng kiến việc T bán rừng khi có khách hỏi mua để cho dễ bán được rừng. Tin tưởng lời T nói là thật nên ông T4 đã đồng ý.

    Ngày 02/5/2023, T thoả thuận bán rừng cho anh H2 với giá 110.000.000 đồng, anh H2 đặt cọc trước cho T số tiền 20.000.000 đồng. Thái có viết Giấy mua bán, đề ngày 02/5/2023, ông T4 ký làm chứng việc mua, bán. Anh H2 hẹn khoảng 1 tuần sau sẽ đến khai thác gỗ. Đến hẹn, anh H2 gọi điện cho T thì T nói chưa có đường vào khai thác và hẹn anh H2 3 ngày sau thì đến khai thác. Đến hẹn thì anh H2 không liên lạc được nên đến nhà T tìm hiểu thì được biết T không có rừng để bán như đã hứa hẹn nên anh H2 đã làm đơn tố giác T. Đến nay, T chưa hoàn trả được số tiền chiếm đoạt 20.000.000 đồng cho anh H2.

  2. Chiếm đoạt của anh anh Nguyễn Thọ H3, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 120.000.000 đồng.

    Do có quen biết với anh H3 từ trước, khoảng cuối tháng 4/2023, T chủ động gọi điện thoại và nói dối với anh H3 là T có rừng keo hơn 02 ha muốn bán. Khi đó, anh H3 đang muốn mua rừng để bán lại lấy tiền chênh lệch nên đồng ý mua rừng của T. Anh H3 sang nhà T thì được T đưa đi xem rừng ở khu vực đập T (vẫn là diện tích rừng của bố, mẹ T được giao khoán mà T đưa anh H2 đi xem). T đồng ý bán rừng keo cho anh H3 với giá 110.000.000 đồng. Chiều ngày 01/5/2023, anh H3 đến nhà T để làm thủ tục, giấy tờ mua bán. T yêu cầu anh H3 đặt cọc trước số tiền 50.000.000 đồng, anh H3 đã đưa cho T 10.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản cho T 40.000.000 đồng, hẹn ngày hôm sau sẽ khai thác rừng. Do tin tưởng nên giữa anh H3 với T không viết giấy tờ gì. Sau đó, T nói dối anh H3 là đường dẫn vào khai thác rừng bị hỏng, phải đợi Thái sửa đường.

    Đến ngày 06/5/2023, T tiếp tục gọi điện nói dối anh H3 là T có ông bác có rừng muốn bán, đã ủy quyền cho T đứng ra bán và hẹn anh H3 đến xem rừng. Sau đó, anh H3 đã nhờ anh Đỗ Xuân M1, sinh năm 1979 ở thôn B, xã N, huyện L đi xem rừng hộ thì T dẫn anh M1 đi xem rừng (là rừng của Công ty TNHH H7 đã giao khoán cho gia đình bà Trần Thị S1, sinh năm 1969 ở cùng thôn với T, cạnh diện tích rừng bố, mẹ T được giao khoán). Sau đó, T có nhờ ông Phạm Văn T4 đứng ra làm chứng việc T bán rừng cho anh H3. Ông T4 có hỏi T lý do rừng đã bán cho người Lạng Sơn rồi lại bán cho người khác thì T nói dối ông T4 là đã trả lại tiền cho người Lạng Sơn do mua giá thấp; tin tưởng nên ông T4 đồng ý đứng ra làm chứng. Anh H3 đồng ý mua rừng với giá 150.000.000 đồng và đưa cho T 70.000.000 đồng để đặt cọc. Do hai lần đặt cọc với số tiền lớn nên anh H3 đã làm Hợp đồng mua bán khai thác rừng cây (theo mẫu anh H3 đã soạn sẵn), đề ngày 08/5/2023 thể hiện việc anh H3 đặt cọc cho T tổng số tiền 120.000.000 đồng để mua rừng.

    Sau khi nhận được tiền, T hẹn anh H3 khi nào làm xong đường thì vào khai thác rừng. Sau đó, anh H3 có nhiều lần gọi điện hỏi thì T vẫn nói là chưa làm được đường vào khai thác, anh H3 tìm hiểu thì được biết đường không bị hỏng và T không có rừng để bán. Biết bị T lừa đảo, anh H3 làm đơn tố giác hành vi của T. Đến nay, T chưa trả được tiền cho anh H3, còn đang chiếm đoạt số tiền 120.000.000 đồng.

  3. Chiếm đoạt của anh Trần Văn Q, sinh năm 1983, trú tại thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 60.000.000 đồng.

    Do nhu cầu mua gỗ keo về để chế biến và thấy bài đăng bán rừng của T trên mạng xã hội Facebook nên anh Q đã liên hệ với T và hẹn ngày 01/5/2023 sẽ đến nhà T để đi xem rừng. Chiều ngày 01/5/2023, anh Q đến nhà T, T đưa anh Q đi xem rừng tại đập T thuộc xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vẫn là diện tích rừng mà bố mẹ T được giao khoán). T đồng ý bán cho anh Q với giá 110.000.000 đồng/2,6 ha. Anh Q đã đặt cọc trước cho T số tiền 20.000.000 đồng và hẹn đến khi nào khai thác gỗ sẽ thanh toán nốt. Khi đó, anh Q và T có làm Hợp đồng mua bán, đề ngày 02/5/2023.

    Ngày 09/5/2023, T lại điện cho anh Q và bảo có ông bác có rừng khoảng hơn 04 ha muốn bán, đã ủy quyền cho T đứng ra bán. Ngày 10/5/2023, T lại đưa anh Q đi xem rừng tại khu rừng của gia đình bà S1 được giao khoán (vẫn là diện tích rừng T nhận tiền đặt cọc để bán cho anh H3). Sau đó, T lại gọi và nhờ ông T4 sang để làm chứng việc T bán rừng. Anh Q đồng ý mua rừng của T với giá 180.000.000 đồng và đưa cho T 20.000.000 đồng để đặt cọc, hẹn T hôm sau đến nhà anh Q lấy thêm 20.000.000 đồng tiền đặt cọc. Khi đó, anh Q với T có viết Giấy mua bán rừng keo, đề ngày 10/5/2023 đưa cho anh Q.

    Ngày 11/5/2023, T đến nhà anh Q và nhận thêm 20.000.000 đồng tiền đặt cọc nữa. Sau đó, T có viết thêm nội dung đã nhận 20.000.000 đồng vào mặt sau của Giấy mua bán rừng keo đã viết vào ngày 10/5/2023. T bảo anh Q, khi nào vào khai thác gỗ thì phải trả số tiền còn lại. Sau đó, T bảo đường vào khai thác rừng không đi được, khi nào T làm đường xong sẽ liên hệ để anh Q vào khai thác rừng. Mấy ngày sau đó, anh Q có liên hệ với T nhưng không được. Anh Q có đưa người xuống xem rừng để cắt gỗ và tìm hiểu thì được biết rừng keo mà T nhận tiền đặt cọc để bán cho anh Q là rừng của Lâm trường, không phải của T. Biết bị Thái L, anh Q đã làm đơn tố giác T. Đến nay, T chưa trả được tiền cho anh Q, còn đang chiếm đoạt số tiền 60.000.000 đồng.

  4. Chiếm đoạt của anh Triệu Văn M, sinh năm 1987 ở thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn số tiền 50.000.000 đồng.

    Vào đầu tháng 5/2023, anh M có nhu cầu muốn mua rừng keo để bán lại kiếm lợi nhuận thì thấy bài đăng bán rừng keo của T trên mạng xã hội Facebook. Ngày 14/5/2023, anh M liên hệ rồi đến gặp T để đi xem rừng. T đưa anh M đi xem rừng keo tại khu vực đập T thuộc thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (khu vực diện tích rừng của bố mẹ T và bà S1 được giao khoán). Tại đây, T nói dối anh M rừng keo là của bác T và T chung nhau, đồng thời bác T đã ủy quyền cho T bán. Sau khi đo diện tích rừng keo xác định là 6,7 ha thì mọi người đi về nhà T. T và anh M thoả thuận mua bán rừng keo với giá 46.000.000 đồng/01 ha, tổng số tiền mua là 308.000.000 đồng.

    Sau đó, T có đưa anh M ra quán nước cách nhà T khoảng 200m để làm giấy tờ đặt cọc mua bán. T gọi Phạm Văn T4 ra làm chứng việc T bán rừng keo cho anh M. Anh M với T đã làm Giấy mua bán vườn keo, đề ngày 14/5/2023, T4 ký làm chứng. Sau đó, anh M đưa cho T 50.000.000 đồng để đặt cọc. Khoảng 3 đến 4 ngày sau, anh M phát hiện việc T đã nhận tiền đặt cọc của nhiều người nên đã hỏi và đòi lại tiền thì T đã thừa nhận không có rừng như đã nói và chuyển trả lại cho anh M toàn bộ số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, anh M đã đưa lại cho T giấy tờ mua bán rừng.

  5. Chiếm đoạt của anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1980 ở thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang số tiền 100.000.000 đồng.

    Đầu tháng 5/2023, anh T2 có xem trên mạng xã hội thì thấy T đăng bài rao bán 16,6 ha rừng keo đã đến thời kỳ thu hoạch với giá 50.000.000đ/01 ha. Anh T2 đã chủ động liên hệ và hẹn gặp T để đi xem rừng. Khi gặp, T đưa anh T2 đi xem rừng keo tại khu vực đập T thuộc thôn B, xã Q, huyện L (là khu rừng bố mẹ T; gia đình bà S1; gia đình bà Nguyễn Thị T9, sinh năm 1980 ở thôn N, xã Q, huyện L và gia đình ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1985 ở cùng thôn với T được giao khoán). T nói dối với anh T2 là toàn bộ diện tích rừng trên của Lâm trường đã giao cho gia đình T và người nhà Thái trồng, đồng thời T đã mua lại hết của mọi người.

    Nghe T nói vậy, anh T2 tin tưởng và đồng ý mua rừng keo của T với giá 50.000.000đ/ 01 ha. Anh T2 cùng với T đo, xác định diện tích rừng cây keo là 16,6 ha. T gọi điện nhờ ông Phạm Văn T4 đứng ra làm chứng việc T có rừng bán. Ngày 20/5/2023, anh T2 thoả thuận mua cả rừng keo của T với giá 830.000.000 đồng và đặt cọc trước 100.000.000 đồng, trong đó 50.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 50.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền, T và anh T2 có làm Hợp đồng đặt cọc và hẹn đến tháng 7 hoặc tháng 8/2023 sẽ tiến hành khai thác và trả số tiền còn lại. Sau đó, qua tìm hiểu anh T2 được biết T cũng đã nhận tiền của nhiều người để bán gỗ keo tại khu vực rừng keo trên. Biết bị T lừa nên anh T2 đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Đến nay, T chưa trả được tiền cho anh T2, còn đang chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng.

  6. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1976 ở thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 200.000.000 đồng.

    Thông qua mạng xã hội, anh Giáp Huy T5, sinh năm 1990 ở số B, ngách E, Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội biết T có đăng bài trên mạng xã hội Facebook nên anh T5 có nói chuyện với anh T3, đồng thời liên hệ với T để đi xem rừng (anh T5 là người thuê đất làm xưởng tại gia đình anh T3). Ngày 16/5/2023, anh T3 đến gặp T để xem rừng. T tiếp tục đưa anh T3 đi xem rừng keo tại khu đập Thum thuộc thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vẫn là diện tích rừng mà T đã nhận tiền đặt cọc của anh T2). T nói dối anh T3 là rừng của T với tổng diện tích khoảng 17,6 ha. Ngày 18/5/2023, anh T3 đồng ý mua rừng keo của T với giá 48.000.000 đồng/ 01 ha và hẹn T sẽ đến đo thực tế diện tích rừng. Anh T3 và T đã ký Hợp đồng mua bán lâm sản, đề ngày 18/5/2023, đồng thời, anh T3 chuyển khoản cho T số tiền là 200.000.000 đồng để đặt cọc. Ngày 21/5/2023, anh T3 cùng T đi đo diện tích rừng keo và xác định diện tích là 15,6 ha. Anh T3 bảo T cung cấp giấy tờ rừng thì T không cung cấp được và trốn tránh gặp rồi tắt điện thoại không cho anh T3 liên lạc. Anh T3 có đến nhà tìm nhưng không gặp, qua tìm hiểu thì biết T không có rừng để bán như hứa hẹn nên đã làm đơn tố giác T. Đến nay, T chưa trả được tiền cho anh T3, còn đang chiếm đoạt 200.000.000 đồng.

  7. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Mạnh H4, sinh năm 1976 ở thôn E, xã Q, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh số tiền 200.000.000 đồng.

    Thông qua bạn bè giới thiệu, anh H4 biết T có đăng thông tin về việc bán rừng trên mạng xã hội. Ngày 17/5/2023, anh H4 đã liên hệ và đến gặp anh T để xem rừng. T đưa anh H4 đi xem rừng keo tại khu vực đập T thuộc thôn B, xã Q, huyện L (vẫn là khu rừng keo bố mẹ T được giao khoán). Khi đưa đi xem rừng thì T giới thiệu là rừng của nhà T và đứng ra bán hộ tất cả rừng keo khu vực xung quanh với tổng diện tích 16ha. Sau đó, T gọi ông Phạm Văn T4 sang làm chứng việc T bán rừng cho anh H4. Anh H4 đồng ý mua rừng của T với tổng số tiền 800.000.000 đồng và đặt cọc cho T số tiền 200.000.000 đồng, trong đó 190.000.000 tiền mặt và chuyển khoản 10.000.000 đồng. Giữa T với anh H4 có viết Giấy mua bán đề ngày 17/5/2023, hẹn 04 ngày sau T sẽ làm đường để anh H4 vào khai thác gỗ, khi đó anh H4 sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại cho T; sau đó Thái ngắt liên lạc với H4. Đến ngày 28/5/2023, T hẹn gặp anh H4 tại nhà T, thừa nhận với anh H4 là T không có rừng keo để bán như đã nói và viết giấy hẹn đến ngày 28/8/2023 sẽ trả lại toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng của anh H4. Đến nay, T chưa trả được tiền cho anh T10, còn đang chiếm đoạt 200.000.000 đồng.

    Ngày 06/6/2023, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung trên. T thừa nhận việc không có rừng để bán nhưng vẫn gian dối đối với các bị hại và ông T4 để họ tin tưởng rồi chiếm đoạt tiền của bị hại. Số tiền chiếm đoạt, T khai đã sử dụng vào việc ăn chơi và chi tiêu cá nhân hết.

Về vật chứng đã thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đỗ Văn T toàn bộ các Hợp đồng mua, bán rừng; Giấy mua, bán rừng giữa Đỗ Văn T với các bị hại, đưa vào hồ sơ vụ án; thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung M30, màu đen của T, đang được nhập kho vật chứng Công an tỉnh B.

Kết quả giám định: Tại bản Kết luận giám định số 1888/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận về chữ viết, chữ ký trên các Hợp đồng mua, bán rừng; Giấy mua, bán rừng mà các bị hại cung cấp và thu giữ tại nơi ở của bị cáo T, kết luận: Chữ viết, chữ ký dưới các mục “Bên bán”, “Đại diện bên A”, “Bên A” đều do Đỗ Văn T ký, viết ra (bút lục 131-132).

Về trách nhiệm dân sự:

Ở giai đoạn điều tra, bị cáo Đỗ Văn T đã hoàn trả số tiền 50.000.000 đồng cho anh Triệu Văn M. Anh M không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm. Những người bị hại khác yêu cầu bị cáoThái phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Anh Cao Văn H2 yêu cầu trả 20.000.000đồng; anh Nguyễn Thọ H3 yêu cầu trả 120.000.000 đồng; anh Trần Văn Q yêu cầu trả 60.000.000 đồng; anh Hoàng Văn T2 yêu cầu trả 100.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T3 yêu cầu hoàn trả 200.000.000đồng và anh Nguyễn Mạnh H4 yêu cầu trả 200.000.000đồng. Ngày 24/4/2024 gia đình bị cáo đã hoàn trả cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt,các bị hại không yêu cầu bị cáo hoàn trả, bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS- P2 ngày 19 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đỗ Văn T khai: Nội dung cáo trạng thể hiện đúng diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, khai nhận có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 750.000.0000đồng của 7 bị hại với phương thức như Cáo trạng nêu; bị cáo đã tác động nhờ gia đình khắc phục hoàn trả cho các bị hại toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Số tiền hoàn trả cho các bị hại là tiền của ông bà do bị cáo nhờ ông bà đứng ra hoàn trả cho các bị hại. Ông bà không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Phạm Văn T4 trình bày: Do tin tưởng bị cáo nên ông một lần đứng ra nhận làm chủ rừng, đứng ra là người làm chứng cho bị cáo bán rừng cho các bị hại. Ông không được bị cáo chia cho khoản tiền nào, bị cáo không bàn bạc gì với ông về việc bán rừng cho các bị hại, ông không biết bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Số tiền 3000.000đồng bị cáo đưa cho ông là tiền bị cáo trả tiền công ghép vải.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG M30, màu đen đã qua sử dụng.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết
  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến bào chữa:

  • - Nhất trí với tội danh Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố; nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ Viện kiểm sát áp dụng.
  • - Số tiền bị cáo chiếm đoạt của 07 bị hại đã cộng làm tình tiết định khung nên theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự không được áp dụng là tình tiết tăng nặng. Do đó, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
  • - Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 năm tù.

Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không bổ sung gì.

Kiểm sát viên đối đáp, tranh luận: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các lần chiếm đoạt đủ yếu tố cấu thành tội phạm và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì ngoài việc bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần, số tiền chiếm đoạt 750.000.000đồng trên mức khởi điểm của khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đề nghị mức hình phạt là phù hợp nên giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt giấy báo phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có lời khai của họ. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được. Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định số 1888/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận về chữ viết, chữ ký trên các Hợp đồng mua, bán rừng; Giấy mua, bán rừng mà các bị hại cung cấp và thu giữ tại nơi ở của bị cáo và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ ngày 01/5/2023 đến ngày 20/5/2023, bằng phương thức, thủ đoạn đăng thông tin gian dối trên mạng xã hội Facebook, Z với nội dung có rừng gỗ keo cần bán, làm cho những người bị hại tin tưởng bị cáo có rừng gỗ keo bán nên đã liên hệ đến xem rừng và đặt cọc tiền cho bị cáo. Với phương thức, thủ đoạn nêu trên bị cáo đã chiếm đoạt số tiền đặt cọc của 07 người bị hại với tổng số tiền 750.000.000 đồng (gồm anh Cao Văn H2 20.000.000đồng; anh Nguyễn Thọ H3 120.000.000 đồng; anh Trần Văn Q 60.000.000 đồng; anh Hoàng Văn T2 100.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T3 200.000.000 đồng và anh Nguyễn Mạnh H4, anh Triệu Văn M 50.000.000đồng).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của các bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý, mục đích vụ lợi, tài sản chiếm đoạt là 750.000.000đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản, điểm trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an cho người dân. Do vậy cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[5] Về về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi chiếm đoạt của 07 người bị hại với tổng số tiền 750.000.000đồng. Theo hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn “Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự”. Do vậy, xác định bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự như luận tội của Viện kiểm sát là có căn cứ. Người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào là không phù hợp.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục đầy đủ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại và ra đầu thú; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại (Nguyễn Mạnh H5) là người có công cách mạng được tặng H6, Huy chương kháng chiến. Do vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù giam để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp. Không có căn cứ xử phạt bị cáo theo mức hình phạt mà người bào chữa cho bị cáo đề nghị.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:

[9.1] Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG M30, màu đen, đã qua sử dụng là của bị cáo, bị cáo dùng làm phương tiện,công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9.2] Đối với các Hợp đồng mua, bán rừng; Giấy mua, bán rừng mà các bị hại cung cấp và thu giữ tại nơi ở của bị cáo được lưu trong hồ sơ vụ án.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, gia đình bị cáo đã hoàn trả cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Bị hại, gia đình bị cáo không yêu cầu bồi thường, hoàn trả gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Đối với ông Phạm Văn T4, kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định có việc ông T4 đứng ra nhận làm chủ rừng khi bị cáo nhận tiền cọc bán rừng cho anh H2, có việc ông T4 đứng ra là người làm chứng việc bị cáo bán rừng cho các bị hại nhưng ông T4 không có động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản; không bàn bạc và không được hưởng lợi gì trong số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại. Việc ông T4 một lần đứng ra nhận làm chủ rừng và đứng ra chứng kiến việc bị cáo bán rừng do bị cáo nói dối ông T4 nên ông T4 tin tưởng. Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông T4 là có căn cứ.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[14] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

  1. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 06/6/2023.
  2. Về xử lý vật chứng thu giữ: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG M30, màu đen, đã qua sử dụng được để trong 01 phong bì của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B được dán kín, niêm phong bằng chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS-P2 ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang).

  3. Về án phí:Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger