Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 08- 11- 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thanh Thủy

2. Bà Dương Thị Thu Hằng

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Ngô Lê Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/11/1988; Nơi sinh: Đại Từ, Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lý Văn T1, sinh năm 1966, con bà: Nguyễn Thị O, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là: Nguyễn Thị Huyền H, sinh năm 1987 (Đã ly hôn năm 2014), có 01 con chung sinh năm 2010; Tiền án: Tại Bản án số 10/2014/HSST ngày 17/01/2014, Toà án nhân dân huyện Đ1, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 05 tháng 03 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tại Bản án số 70/HSST ngày 19/3/2014, Tòa án nhân dân huyện B, TP Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tại Bản án số 41/2014 ngày 22/5/2015, Tòa án nhân dân huyện Đ1, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bản án số 70/HSST ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện B, TP Hồ Chí Minh. Buộc phải chấp hành chung của hai bản án là 21 tháng tù; Tại Bản án số 143/2015/HSST ngày 15/9/2015, Tòa án nhân dân huyện S, TP Hà Nội xử phạt 02 năm 10 tháng tù giam tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 17/11/2017;

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/5/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Bị hại:

1. Anh Hoàng Quốc M, sinh năm 1978 – Vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ G, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Đoàn Ngọc H1, sinh năm 1991 – Vắng mặt

Nơi cư trú: TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1969 – Có mặt

Nơi cư trú: Xóm K, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Người làm chứng:

1. Anh Ngọc Đức D, sinh năm 1987 – Vắng mặt

Nơi cư trú: TDP L, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Mai Anh C, sinh năm 1986 – Vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

3. Chị Trần Thị N, sinh năm 1985 – Vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 03/8/2019, Lý Văn T đang ngủ cùng anh Mai Anh C, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện M, TP Hà Nội; anh Ngọc Đức D, sinh năm 1987, trú tại xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Luông, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) trên tầng 2 cửa hàng mua bán trao đổi xe máy T, thuộc địa phận xóm A, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) do anh Hoàng Quốc M, sinh năm 1978, trú tại tổ A, phường C, TP T, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ G, phường C, TP T, tỉnh Thái Nguyên) làm chủ cửa hàng; Cùng thời điểm này, anh Đoàn Ngọc H1, sinh năm 1991, trú tại xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) là người làm cùng anh M không có mặt tại cửa hàng và có để 01 chiếc ví bên trong có số tiền 20.000.000 đồng tại đầu giường. Do không thấy anh M và anh H1 tại cửa hàng nên T đã lấy số tiền 20.000.000 đồng trong ví của anh H1, sau đó T tiếp tục xuống tầng 1 lấy xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS : 20B1-839.33 của anh M rồi điều khiển xe môtô đi đến khu vực tỉnh Ninh Bình bán chiếc xe môtô trên cho một người đàn ông không quen biết lấy số tiền 4.000.000 đồng. Sau đó T bỏ trốn và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Ngày 06/8/2019 và 13/8/2019, anh Đoàn Ngọc H1 và anh Hoàng Quốc M đã làm đơn trình báo đến Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết vụ việc theo quy định. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành xác minh và ra thông báo truy tìm đối với Lý Văn T. Đến ngày 23/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên làm việc với Lý Văn T. Lý Văn T đã khai nhận toàn bộ sự việc như trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 08/KL-ĐGTSHS ngày 25/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên kết luận: 01 xe môtô BKS: 20B1-839.33; nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS; màu sơn: Đen- Trắng; số khung: RLCS5C6K0GY308500; số máy: 5C6K308514; xe cũ, đã qua sử dụng; đăng ký lần đầu ngày 01/9/2016. Tại thời điểm định giá ngày 03/8/2019 có giá trị là 9.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã bồi thường cho anh Đoàn Ngọc H1 số tiền 20.000.000 đồng; bồi thường cho anh Hoàng Quốc M số tiền 9.000.000 đồng, các bên đã thỏa thuận xong và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 20B1- 839.33; số tiền 20.000.000 đồng, tiền Ngân hàng N1. Số vật chứng trên hiện Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSĐ, ngày 24/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lý Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết vì bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong và không có yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng của vụ án: Không thu hồi được nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh: Khoảng 03 giờ, ngày 03/8/2019, tại cửa hàng mua bán trao đổi xe máy Tâm B thuộc xóm A, xã H (N là TDP A, thị trấn H) huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên do anh Hoàng Quốc M làm chủ, Lý Văn T đã có hành vi trộm cắp số tiền 20.000.000 đồng trong ví của anh Đoàn Ngọc H1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 20B1– 839.33 của anh Hoàng Quốc M trị giá 9.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 29.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, biên bản sự việc, đặc điểm loại tài sản chiếm đoạt, sơ đồ, bản ảnh, biên bản hiện trường, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng....., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

.....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g. Tái phạm nguy hiểm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[2]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị xét xử về cùng loại tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng tình tiết này đã được xác định làm tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và các nội dung khác của vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, bị cáo và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho các bị hại. Tại phiên tòa các bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và cũng không có yêu cầu đề nghị gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Vật chứng của vụ án: Qúa trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Lý Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024. Quyết định tạm giam bị cáo Lý Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lý Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt các bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhân:

  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - Cơ quan THA hình sự - CA huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND xã Y, huyện Đ1;
  • - Bị cáo, Bị hại; Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự .

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Huy Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: : Khoảng 03 giờ, ngày 03/8/2019, tại cửa hàng mua bán trao đổi xe máy Tâm B thuộc xóm A, xã H (N là TDP A, thị trấn H) huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên do anh Hoàng Quốc M làm chủ, Lý Văn T đã có hành vi trộm cắp số tiền 20.000.000 đồng trong ví của anh Đoàn Ngọc H1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 20B1– 839.33 của anh Hoàng Quốc M trị giá 9.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 29.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger