|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 24/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hải và ông Trần Văn Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Thăng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/HSST-QĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Đức T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 01 tháng 5 năm 1985, tại: Huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đức S, sinh năm: 1960; con bà: Hoàng Thị L (đã chết); vợ: Trần Thị G (đã chết); con: Có 01 người, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 16/6/2024, Trần Đức T đang ở nhà tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì có một người bạn tên Q (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0965.924.xxx gọi điện vào số điện thoại của T (0943.794.xxx) và nói: “Em uống rượu say rồi lấy ít về chơi anh hầy”. Hiểu ý Q nói mua ma túy đá về sử dụng nên T đồng ý và nhắn lại với nội dung: “Ừ, để anh gọi hỏi xem như thế nào, mà lấy mấy?”. Q nói: “Bảy trăm đồng anh nha”. Nghe xong điện thoại của Q, T liền gọi điện thoại cho người đàn ông làm nghề giao nhận hàng (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) và nói: “Đưa cho em bảy trăm đồng tiền đồ qua cây xăng H cái” (có nghĩa bán cho T 700.000 đồng tiền ma túy đá). Người này đồng ý và nói: “Chờ anh khoảng 20 phút, khi nào vào thì anh gọi điện”. Lúc này, Q đến nhà T và đưa cho T số tiền 1.000.000 đồng, trong đó có 300.000 đồng Q trả nợ cho T, 700.000 đồng tiền nhờ T mua ma túy. Vừa nhận tiền của Q xong thì người giao hàng gọi điện thoại cho T và nói: “Qua cây xăng H đi mà lấy đồ”. Biết đã có ma túy nên T điều khiển xe máy điện, màu ghi, BKS: MĐ2-300.84 đi đến điểm hẹn. Khi gặp người đàn ông bán ma túy tại điểm hẹn, T đưa cho người này 700.000 đồng. Người này cầm tiền rồi nói: “Hàng ở đó tề” đồng thời chỉ tay đến cột bê tông cách chỗ T khoảng 04m. T đi lại cột bê tông thì thấy một hộp dầu Phật L1. Biết bên trong hộp dầu có ma túy nên T cầm lấy bỏ vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe đi về xã C, huyện H để đưa ma túy cho Q. Khi đi đến xóm D, xã C, huyện H bị Công an huyện H, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 vỏ hộp dầu Phật L1, bên trong có một gói giấy màu trắng, bên trong gói màu trắng có một gói ni lông màu trong suốt trong cùng có chất tinh thể dạng rắn; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A52S, màu đen; 01 xe máy điện nhãn hiệu GOGOI-1, màu ghi, BKS: 37MĐ2- 300.84.
Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 16/6/2024, thể hiện: Mở gói niêm phong thấy bên trong vỏ dầu Phật L1, có 01 gói giấy màu trắng bọc bên trong là gói ni lông màu trong suốt, trong cùng có chất tinh thể dạng rắn. Tiến hành cân, sau khi loại bỏ bao bì thì số chất tinh thể dạng rắn có khối lượng 0,374 gam. Hội đồng đã lấy toàn bộ 0,374 gam chất tinh thể dạng rắn này để giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 692/KL-KTHS(Đ 2-MT) ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể dạng rắn thu giữ của Trần Đức T gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine có khối lượng 0,374 gam".
Cáo trạng số 53/CT-VKS-HN ngày 08/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Đức T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Trần Đức T đã khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện vào ngày 16/6/2024 giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Trần Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy"; về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Trần Đức T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù; về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 47 BLHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì in chữ Công an huyện H đã được niêm phong, tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52s; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 16/6/2024; phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 16/6/2024, tại địa bàn xóm D, xã C, huyện H, tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang Trần Đức T có hành vi tàng trữ 01 gói chất tinh thể dạng rắn. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, Trần Đức T khai nhận: Gói chất tinh thể dạng rắn bị thu giữ là gói ma túy đá do bị cáo vừa mới mua của một người đàn ông (T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 700.000đ vào trưa cùng ngày (16/6/2024) với mục đích sử dụng.
Do gói chất tinh thể dạng rắn thu giữ của bị cáo được giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,374 gam. Nên hành vi của bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Vụ án trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và chế độ quản lý đặc biệt đối với việc tàng trữ chất ma túy. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng không chịu cai nghiện và tu dưỡng bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội. Hành vi tàng trữ 0,374 gam ma túy (Methamphetamine) của bị cáo nhằm mục đích sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy, bị cáo phạm tội nghiêm trọng. Nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng: Vật chứng gồm:
01 phong bì in chữ Công an huyện H, dán kín, niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ: Vỏ gói niêm phong vật chứng thu giữ của Trần Đức T. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại; 01 xe máy điện nhãn hiệu GOGOI-1, màu ghi, BKS: 37MĐ2- 300.84 và 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A52S, màu đen đã qua sử dụng.
Xét thấy: Phong bì in chữ Công an huyện H đã được niêm phong dán kín bên trong chỉ còn: Vỏ gói dùng để gói ma túy (vì tất cả các chất tinh thể dạng rắn thu giữ của T đã đem đi giám định và mẫu vật giám định đã sử dụng hết). Đây là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Chiếc điện thoại di động là của bị cáo. Bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Chiếc xe máy điện nhãn hiệu GOGOI-1, màu ghi, BKS: 37MĐ2- 300.84 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện H trả lại cho chủ sở hữu.
[6]. Đối với người đàn ông tên Q sử dụng số điện thoại 0965.924.xxx và người đàn ông bán ma túy cho T sử dụng số điện thoại 0383.495.xxx. Do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể và chưa xác định được chủ sở hữu số thuê bao nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang tiếp tục xác minh làm rõ. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 16/6/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì in chữ Công an huyện H đã được niêm phong.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52s, màu đen máy đã qua sử dụng.
(Đặc điểm chi tiết của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09/8/2024 giữa Công an huyện H và Cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Đức T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ma túy Trần Đức Tú
