TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 01-8-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Định, ông Nguyễn Xuân Đào
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Thị Thu H - sinh năm 1985 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu H, xã Á, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: (Không xác định được bố đẻ); con bà: Vũ Thị H1 - sinh năm 1953; chồng: Bùi Công T - sinh năm 1979 (Đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không, bị cáo áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú.
(Có mặt)
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị H2 - sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu H, xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Anh Bùi Trọng V - sinh năm 1963
Địa chỉ: Khu H, xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Phạm Thị V1 - sinh năm 1964
Địa chỉ: Khu H, xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Minh T1 - sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu B, xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Anh Nguyễn Đức T2 - sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu F, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Bòng T3 - sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu C, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Lưu Thị L - sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu C, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Đặng Thị H3 - sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu H, xã Á, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Anh Lê Quang P - sinh năm 1993
Địa chỉ: Khu H, xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Chị Ngô Thị B - sinh năm 1974
Địa chỉ: Khu H, xã Á, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Anh Nguyễn Ngọc H4 - sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu G, xã Á, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
- Anh Nguyễn Văn D - sinh năm 1993
Địa chỉ: Khu E, xã P, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Phạm Thị H5 - sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu C, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Vũ Thị Hồng L1 - sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn K - sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị M - sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
- Chị Hoàng Thanh N - sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2010, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên Vũ Thị Thu H đã xuất cảnh sang Trung Quốc để xin việc làm trong công ty. Bị cáo đã sử dụng hộ chiếu cá nhân để qua cửa khẩu L4. Sau khi hết thời hạn nhập cảnh, H không trở về Việt Nam mà tiếp tục ở lại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc để lao động trái phép. Đến khoảng tháng 6/2011, H trở về Việt Nam thăm gia đình bằng xe khách chuyên chở người từ tỉnh Quảng Đông đến khu vực biên giới Trung Quốc - Việt Nam và ngược lại; nhà xe đón, đưa H ra khu vực biên giới sau đó H đi thuyền vượt biên qua sông K (thuộc khu vực biên giới tiếp giáp giữa thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam và Trung Quốc) để trở về Việt Nam. Quá trình trở về Việt Nam, H không làm bất kỳ giấy tờ, thủ tục gì. Khi về nhà, có nhiều người là người thân, họ hàng trong gia đình và hàng xóm biết H đi Trung Quốc về nên đến gặp trực tiếp hoặc liên hệ qua điện thoại để hỏi thăm và xin H cho đi làm cùng. H đã liên hệ với chủ xưởng ở Trung Quốc để hỏi về việc nhận thêm người làm tại xưởng và được chủ đồng ý, sau đó H nói với mọi người sang Trung Quốc sẽ làm việc tại xưởng giày da ở tỉnh Quảng Đông, ăn ở luôn tại xưởng, mức lương hằng tháng khoảng 1500 nhân dân tệ Trung Quốc, tương đương khoảng 5.000.000 đồng tiền Việt Nam. H sẽ đưa mọi người sang Trung Quốc bằng cách đi thuyền vượt biên qua sông K thuộc khu vực biên giới tiếp giáp giữa thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam và Trung Quốc; không cần làm giấy tờ, thủ tục gì, chi phi đi hết 5.000.000 đồng/01 người, nếu đồng ý đi thì nộp tiền trước cho H. Sau khi đã thỏa thuận, H thông báo ngày đi và tập trung mọi người đón xe khách ở ngã ba C, xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ để cùng đi xuống thành phố Hà Nội; đối với những người không ở gần ngã ba C, xã Ấ thì chủ động đợi, bắt xe khách trên đoạn đường xe khách chạy qua. Khi đến thành phố Hà Nội, H chuyển xe khách đưa mọi người đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó H bắt xe ôm đưa mọi người ra khu vực biên giới sông K. Hằng liên hệ bằng điện thoại di động với người của nhà xe đưa người từ Việt Nam sang Trung Quốc (nhà xe mà H đã đi từ Trung Quốc về Việt Nam trước đó) đến đón và đưa đi thuyền vượt biên qua sông K sang Trung Quốc mà không làm bất kỳ giấy tờ, thủ tục gì. Sang địa phận Trung Quốc, có xe khách đón và đưa mọi người đến xưởng giày da ở tỉnh Quảng Đông nơi H đang làm. Về chi phí đi, H đã thu của mọi người số tiền như đã thỏa thuận là 5.000.000 đồng/01 người. H được chủ xưởng người Trung Quốc trả tiền công đưa người vào xưởng lao động là 100 nhân dân tệ Trung Quốc (tương đương 300.000 đồng tiền Việt Nam)/01 người lao động.
Với cách thức như trên, Vũ Thị Thu H đã 03 lần tổ chức đưa 33 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động và được chủ xưởng trả công 3.300 nhân dân tệ tương đương 9.900.000 đồng tiền Việt Nam, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng tháng 6/2011, Vũ Thị Thu H đưa 19 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động, gồm: Anh Bùi Trọng V, chị Phạm Thị V1, chị Bùi Thị H2, chị Đặng Thị H3, anh Lê Quang P, anh Trần Ngọc N1, anh Nguyễn Đại L2, chị Bùi Thị V2, anh Nguyễn Bòng T3, chị Lưu Thị L, anh Trần Ngọc N2, chị Đào Thị T4, anh Trần Mạnh C, anh Nguyễn Bòng T5, chị Nguyễn Thị Kim L3, chị Lưu Thị T6, anh Nguyễn Đức T2, chị Bùi Thị H6 và chị Nguyễn Thị Minh T1.
Lần 2: Vào khoảng tháng 12/2011, H đưa 11 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động, gồm: Chị Ngô Thị B, anh Nguyễn Ngọc H4, anh Nguyễn Thiện H7, anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn D, chị Trần Thị B1, chị Nguyễn Thị T7, chị Phạm Thị H5, anh Nguyễn Văn Q, chị Vũ Thị Hồng L1 và chị Nguyễn Thị Q1.
Lần 3: Vào khoảng đầu năm 2012, H5 đưa 03 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động, gồm: Chị Nguyễn Thị M, chị Hoàng Thanh N và anh Nguyễn Văn H8.
Sau khi đưa người sang Trung Quốc, bản thân H5 tiếp tục cư trú, lao động tại công ty của Trung Quốc cùng với những người H5 đã đưa sang. Trong khoảng thời gian này, H5 nghe tin có nhiều người khác bị xử lý về hành vi tổ chức đưa người xuất cảnh trái phép đi Trung Quốc lao động, do lo sợ bản thân sẽ bị cơ quan chức năng xử lý nên sau đó H5 không nhận lời đưa người khác xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động nữa, đồng thời cũng không dám trở về Việt Nam. Đến tháng 8/2023, H5 nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm quy định của pháp luật nên H5 đã đến Cơ quan chức năng của Trung Quốc và Lãnh sự quán Việt Nam tại Trung Quốc làm thủ tục xin cấp lại visa cho phép nhập cảnh hợp pháp trở về Việt Nam. Sau khi trở về, H5 đã tự nguyện đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đầu thú và tự nguyện khai báo thành khẩn về hành vi vi phạm của mình.
Đối với những người được H5 đưa sang Trung Quốc lao động, do công việc vất vả nên sau một khoảng thời gian làm việc tại xưởng giày da đã tự xin trở về Việt Nam. Hiện số công dân này đang sinh sống, lao động tại địa phương hoặc ở nhiều nơi khác nhau, một số công dân đã chết.
Cơ quan điều tra đã xác minh, ghi lời khai đối với 17 người có liên quan, gồm: chị Bùi Thị H2, anh Bùi Trọng V, chị Phạm Thị V1, chị Đặng Thị H3, anh Lê Quang P, chị Ngô Thị B, anh Nguyễn Ngọc H4, chị Nguyễn Thị Minh T1, anh Nguyễn Đức T2, anh Nguyễn Bòng T3, chị Lưu Thị L, chị Phạm Thị H5, anh Nguyễn Văn D, chị Vũ Thị Hồng L1, anh Nguyễn Văn K, chị Nguyễn Thị M, chị Hoàng Thanh N. Tất cả đều xác nhận và khẳng định Vũ Thị Thu H chính là người đã tổ chức, môi giới, hướng dẫn họ xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động.
Xác minh thông tin cư trú đối với 16 công dân, trong đó:
13 công dân hiện không có mặt tại địa phương, gồm: Anh Trần Mạnh C, anh Trần Ngọc N2, chị Đào Thị T4, chị Bùi Thị V2, anh Nguyễn Bòng T5, chị Bùi Thị H6, chị Lưu Thị T6, chị Nguyễn Thị Kim L3, chị Trần Thị B1, chị Nguyễn Thị T7, anh Nguyễn Thiện H7, chị Nguyễn Thị Q1 và anh Nguyễn Văn Q.
03 công dân đã chết, gồm: Anh Nguyễn Đại L2, chị Trần Ngọc N1 và anh Nguyễn Văn H8.
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKPT-P1 ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Vũ Thị Thu H về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo khoản 2 Điều 275 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ bổ sung cáo trạng về áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là nộp lại số tiền được hưởng bất chính, những nội dung còn lại vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.
Căn cứ khoản 2 Điều 275 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị Thu H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã nơi cư trú của bị cáo trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 9.900.000 đồng (Chín triệu chín trăm nghìn đồng) là số tiền của bị cáo do phạm tội mà có.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị H2, chị Nguyễn Thị Minh T1, chị Đặng Thị H3, anh Lê Quang P, chị Ngô Thị B và anh Nguyễn Ngọc H4 đều trình bày:
Các anh chị là những người sinh sống ở vùng nông thôn, ngoài làm nông nghiệp thì không có nghề gì khác, do không có thu nhập nên kinh tế rất khó khăn. Mối quan hệ giữa các anh chị với bị cáo Vũ Thị Thu H là anh em họ, người cùng quê và bạn bè chơi với nhau. Năm 2011 các anh chị biết bị cáo H từ Trung Quốc về quê nên đến chơi và hỏi thăm thì được biết H đang làm việc cho một công ty ở bên Trung Quốc, sau khi về thăm quê thì H tiếp tục trở lại Trung Quốc làm. Để có việc làm và có thu nhập của gia đình, các anh chị đã hỏi H là công ty chỗ H có tuyển người làm không, nếu tuyển thì cho các anh chị sang đó làm. H nói là để H điện cho ông chủ của côn ty nơi H đang làm xem có nhu cầu tuyển lao động không. Sau đó H nói là ông chủ của công ty vẫn có nhu cầu tuyển lao động, nếu ai muốn đi thì phải nộp cho H 5.000.000 đồng/người để H chi phí trên đường. Các anh chị đồng ý nên mỗi người đã đưa tiền cho H. Các anh chị không nhớ ngày tháng cụ thể, chỉ nhớ là năm 2011 là H đã đưa mọi người đến H sau đó được đưa bằng thuyền qua sông K để sang Trung Quốc, không ai làm thủ tục xuất nhập cảnh gì. Khi sang Trung Quốc thì có xe đón và đưa về công ty giày da nơi H đang làm. Các anh chị làm được một thời gian thấy công việc vất vả và lương không cao hơn bên Việt Nam là mấy, đồng thời không làm được việc gì của gia đình nên các anh chị nói với H là không làm nữa. H đã đồng ý và gọi xe đến đón các anh chị về Việt Nam như lúc đi. Khi làm công nhân của công ty bên Trung Quốc là cùng làm với H, không ai bị ngược đãi gì, được trả lương đầy đủ. Nay Tòa án xét xử bị cáo H về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài thì đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì các anh chị sang Trung Quốc là hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc, các anh chị không yêu cầu bị cáo H bồi thường gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa nhưng đã có bản trình bày lưu trong hồ sơ, nội dung trình bày không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo, không ai yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Hành vi thực hiện của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Vũ Thị Thu H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Vũ Thị Thu H là người lao động trong một công ty ở bên Trung Quốc. Khi về nước thì một số người đến hỏi thăm và xin H cho sang bên Trung Quốc làm cùng, H đã gọi điện sang công ty T8 thì công ty đồng ý nhận người Việt Nam vào làm nên H đã bảo mọi người sang làm cho công ty bên Trung Quốc, nếu đi thì mỗi người phải nộp cho H 5.000.000 đồng để H chi phí trên đường. Mọi người đồng ý nên đã đưa tiền cho H. Năm 2011 và năm 2012, H không làm thủ tục xuất cảnh cho 33 người mà đã đưa 33 người vượt sông K ở khu vực M, tỉnh Quảng Ninh sang bên Trung Quốc để làm công nhân cho một công ty. Khi H đưa mọi người đến công ty làm thì công ty đã trả tiền công cho H là 3.300 nhân dân tệ tương đương với 9.900.000 đồng tiền Việt Nam, còn số tiền của mọi người đưa thì H đã chi phí hết trên đường đi. Số lần và số người H đưa đi như sau:
Lần 1: Vào khoảng tháng 6/2011, H đưa 19 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động, gồm: Anh Bùi Trọng V, chị Phạm Thị V1, chị Bùi Thị H2, chị Đặng Thị H3, anh Lê Quang P, anh Trần Ngọc N1, anh Nguyễn Đại L2, chị Bùi Thị V2, anh Nguyễn Bòng T3, chị Lưu Thị L, anh Trần Ngọc N2, chị Đào Thị T4, anh Trần Mạnh C, anh Nguyễn Bòng T5, chị Nguyễn Thị Kim L3, chị Lưu Thị T6, anh Nguyễn Đức T2, chị Bùi Thị H6 và chị Nguyễn Thị Minh T1.
Lần 2: Vào khoảng tháng 12/2011, H đưa 11 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động, gồm: Chị Ngô Thị B, anh Nguyễn Ngọc H4, anh Nguyễn Thiện H7, anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn D, chị Trần Thị B1, chị Nguyễn Thị T7, chị Phạm Thị H5, anh Nguyễn Văn Q, chị Vũ Thị Hồng L1 và chị Nguyễn Thị Q1.
Lần 3: Vào khoảng đầu năm 2012, H5 đưa 03 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động, gồm: Chị Nguyễn Thị M, chị Hoàng Thanh N và anh Nguyễn Văn H8.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ vụ án. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được một người muốn xuất cảnh, nhập cảnh giữa Việt Nam và Trung Quốc thì phải được phép của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng bị cáo không tuân thủ các quy định mà lại cố tình tổ chức cho mọi người vượt biên để xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, hành vi của bị cáo đã xâm phạm thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của Nhà nước. Mục đích bị cáo tổ chức cho những người xuất cảnh, nhập cảnh trái phép không nhằm chống chính quyền nhân dân. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo Điều 349 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với 11 người trở lên, theo khoản 3 của Điều 349 của Bộ luật Hình sự thì khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là năm 2011 và năm 2012 khi Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực pháp luật, khoản 2 Điều 275 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 12 năm tù, không quy định tình tiết tăng nặng định khung là phạm tội đối với 11 người trở lên. So điều luật của hai Bộ luật thì khoản 2 Điều 275 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có khung hình phạt là nhẹ hơn khoản 3 Điều 349 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2016 của Quốc hội, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được áp dụng theo khoản 2 Điều 275 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Trong vụ án này, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có hành vi trốn đi nước ngoài nhưng không ai có hành vi nhằm chống chính quyền nhân dân. Từ năm 2011 và năm 2012 đến nay, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính cũng như thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết. Vì vậy, không xử lý hành chính hoặc trách nhiệm hình sự đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Tính chất vụ án: Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về xuất cảnh, nhập cảnh; hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn khu dân cư. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đó là: “Bị cáo tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nộp lại số tiền được hưởng lợi bất chính; bị cáo ra đầu thú; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”. Nhân thân của bị cáo là tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần phạm tội này là lần đầu; khi thực hiện hành vi phạm tội là do một số người dân cùng nơi cư trú của bị cáo không có việc làm và không có thu nhập, muốn có việc làm và có thu nhập nên đã nhờ bị cáo giúp đỡ để được làm công nhân tại công ty ở nước ngoài nơi bị cáo đang làm công nhân; mối quan hệ giữa bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh em họ, bạn bè và là người cùng quê hay chơi với nhau; bị cáo tự nhận thấy hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an tự thú. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên bị cáo đủ điều kiện áp dụng Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo và có sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát căn cứ các quy định của pháp luật, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo 36 tháng tù, cho hưởng án treo là phù hợp.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì, là người lao động tự do. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã được hưởng lợi 9.900.000 đồng. Bị cáo xác định số tiền này do phạm tội mà có nên nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước. Vì vậy, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 9.900.000 đồng của bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Bị cáo đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sang Trung Quốc lao động, không ai đề nghị giải quyết dân sự gì đối với bị cáo nên không giải quyết.
[7] Án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 275 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Thị Thu H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Vũ Thị Thu H cho UBND xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Vũ Thị Thu H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Á, huyện H, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 9.900.000 đồng (Chín triệu chín trăm nghìn đồng) của bị cáo Vũ Thị Thu H là số tiền do phạm tội mà có (Số tiền tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước hiện Công an tỉnh P đã chuyển vào tài khoản 3949.0.1054969.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo ủy nhiệm chi ngày 31/7/2024).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
