TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-PT Ngày 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lam
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Tùng; ông Hồ Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang là Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLPT- HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh ngày 12/9/1979 tại: Xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ đăng ký cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q1 và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt tại phiên toà
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Mai Xuân Đ, sinh năm 1982 – Luật sư Công ty L - Chi nhánh huyện K. Có mặt
Trong vụ án này còn có bị hại nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04/6/2024, Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đi từ nhà ra đồng “Đập E” thuộc thôn Đ, xã A để dẫn nước vào ruộng lúa. Khi đến, Q thấy một con trâu đang được buộc ăn cỏ ở gần ruộng cỏ của mình (cỏ được Q trồng để phục vụ chăn nuôi của gia đình) thì anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, trú cùng thôn (ông nội của anh T và ông nội của Q là anh em) đi đến và nhận đó là trâu của mình nên Q nói với anh T không được để trâu ăn cỏ nhà Q và đi về. Khoảng 20 phút sau, Q mang theo 01 chiếc cuốc để tiếp tục đi lấy nước vào ruộng lúa nhà mình thì thấy con trâu của anh T đứt dây và đang ăn cỏ tại ruộng cỏ của mình nên Q lấy một hòn đá ném về phía con trâu nhưng không trúng. Lúc này, anh T đi đến có lời nói “trâu tau lợ, đừng đập hấn” thì Q nói lại “không đập trâu tau đập mi”, sau đó Q cầm cán cuốc, phần sát lưỡi cuốc đánh 01 cái trúng vào mặt ngoài bắp chân trái. Tiếp đó Q trở và cầm vào đầu cán cuốc, thuộc phần kim loại hình tròn trên lưỡi cuốc cố định, liên kết với cán cuốc (phần không có lưỡi cuốc) đánh anh T. Lúc này, anh T đưa tay trái lên đỡ dẫn đến phần kim loại hình tròn trên lưỡi cuốc trúng vào vị trí mặt ngoài cổ tay trái. Anh T bắt được cuốc rồi cả hai giằng co nhau, anh T lấy được chiếc cuốc ném sang bên cạnh, Q liền nhặt lấy và cầm phần đầu cán cuốc bằng kim loại hình tròn trên lưỡi cuốc đánh trúng vào mặt trước cẳng chân trái làm anh T ngã ngồi xuống. Q thấy chân trái anh T bị chảy máu nên Q dừng lại và cầm cuốc đi về nhà. Sau đó, anh T được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện A, tỉnh Nghệ An từ ngày 04/6/2024 đến ngày 17/6/2024 ra viện. Hậu quả, anh T bị Gãy hở độ 2 một phần ba (1/3) giữa xương chày trái (chân trái) và G kín đầu dưới xương quay trái (tay trái).
- Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 192/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H, kết luận:
- + Gãy đầu dưới xương quay tay trái. Tỷ lệ TTCT là 08%.
- + Gãy 1/3 giữa xương chày cẳng chân trái đã phẫu thuật còn phương tiện kết hợp xương. Tỷ lệ TTCT là 15%.
- + Mặt trước 1/3 trên sát khớp gối trái sẹo phẫu thuật kích thước nhỏ. Tỷ lệ TTCT là 01%.
- + Mặt trước trong 1/3 trên cẳng chân trái sẹo phẫu thuật kích thước nhỏ. Tỷ lệ TTCT là 01%.
- + Mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái sẹo vết thương kích thước lớn. Tỷ lệ TTCT là 03%.
- + Mặt trước trong 1/3 dưới cẳng chân trái sẹo phẫu thuật kích thước nhỏ. Tỷ lệ TTCT là 01%.
Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 26%. Gãy đầu dưới xương quay cẳng tay trái do vật tày tác động vào gây nên, vết thương mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái và gãy xương chày chân trái do vật sắc gây nên; chiều hướng và cơ chế hình thành vết thương không xác định được.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của Nguyễn Văn Q, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án..
Bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận đề nghị xem xét tình tiết bị cáo trước đây bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não và người bào chữa cho rằng bị cáo do bị tai nạn trước dây dẫn đến bị cáo không bình thường trong nhận thức và điều khiển hành vi của mình và người bào chữa cũng cho rằng Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú đã từng gọi bị cáo lên để làm hồ sơ nhận trợ cấp người tàn tật. Vì vậy đề nghị xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm:
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có có sở khẳng định:
Khoảng 16 giờ 50 ngày 04/6/2024 tại cánh đồng “Đập E” thuộc thôn Đ, xã A. Khi thấy trâu của anh Nguyễn Văn T ăn cỏ của gia đình mình nên Nguyễn Văn Q đã dùng 01 chiếc Cuốc có lưỡi bằng kim loại màu nâu, dài 20,5cm, rộng 12cm, dày 0,2cm; cán cuốc làm bằng thân cây tre dạng trụ tròn, màu vàng xám dài 102,5cm, đường kính 3cm đánh anh Nguyễn Văn T bị thương ở vùng quay tay trái và vùng cẳng chân trái Hậu quả làm anh Nguyễn Văn T bị gãy tay trái và chân trái, với tổng tổn thương cơ thể tỷ lệ 26%.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm, và thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ gây thương tích cho anh H1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và khung hình phạt trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho bị hại; tại phiên toà sơ thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo giao nộp Giấy xác nhận của Bệnh viện Q2 về việc bị cáo từng bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông; Đơn trình bày hoàn cảnh có xác nhận của Chính quyền địa phương; Bản thoả thuận đã bồi thường toàn bộ thiệt hại giữa bị cáo và bị hại; Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại. Đây là những tình tiết mới mà cấp sơ thẩm chưa xem xét. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Riêng đối với việc bị cáo nộp Giấy xác nhận của Bệnh viện Q2, về việc bị cáo từng bị chấn thương sọ não, do tai nạn giao thông và ý kiến của người bào chữa của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo trước đây bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não nên dẫn đến bị cáo không bình thường trong nhận thức và
điều khiển hành vi của mình. Người bào chữa cũng cho rằng Ủy ban nhân dân xã N bị cáo cư trú đã từng gọi bị cáo lên để làm hồ sơ nhận trợ cấp người tàn tật để đề nghị Hội đồng xét xử được được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy qua kết quả tranh tụng tại phiên toà và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không có căn cứ bị cáo có bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên không cần trưng cầu giám định về tâm thần đối với bị cáo.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q sửa bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo NguyễnQuân phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo NguyễnQuân 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày kết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
Bản án số 54/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 54/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04/6/2024, Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đi từ nhà ra đồng “Đập E” thuộc thôn Đ, xã A để dẫn nước vào ruộng lúa. Khi đến, Q thấy một con trâu đang được buộc ăn cỏ ở gần ruộng cỏ của mình (cỏ được Q trồng để phục vụ chăn nuôi của gia đình) thì anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, trú cùng thôn (ông nội của anh T và ông nội của Q là anh em) đi đến và nhận đó là trâu của mình nên Q nói với anh T không được để trâu ăn cỏ nhà Q và đi về. Khoảng 20 phút sau, Q mang theo 01 chiếc cuốc
