|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Nhàn
- Ông Tô Phú Mỹ
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 121/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm: 1975.
- Bị đơn: Anh Dương Thành N, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường C, TP ., tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường C, TP ., tỉnh Đ.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Chị M và anh N chung sống như vợ chồng từ năm 1995, không có tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn. Chị M và anh N chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không còn phù hợp nhau, thường xuyên cải nhau, anh N không phụ giúp nuôi dưỡng các con, không lo chi phí sinh hoạt, anh N thường xuyên có hành vi xúc phạm chị M. Nay chị M nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, tình cảm không còn, nên chị M yêu cầu ly hôn với anh N.
- Về nuôi con chung: Chị M và anh N có 03 con chung tên Dương Minh T, sinh năm 1996, Dương Ngọc Minh C, sinh năm 1998 và Dương Minh N1, sinh năm 2001, hiện 03 con đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
- Về chia tài sản chung: Chị Minh xác đ không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Minh xác đ không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Dương Thành N vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tham gia tố tụng có văn bản ý kiến trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Anh N và chị M chung sống như vợ chồng từ năm 1995, không đăng ký kết hôn. Khi sống chung thì vợ chồng hạnh phúc nhưng từ năm 2020 vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc thường xuyên cãi nhau và từ đó không còn tiếng nói chung nữa. Nay anh N đồng ý ly hôn chị M.
- Về nuôi con chung: Anh N và chị M có 03 con chung tên Dương Minh T, sinh năm 1996, Dương Ngọc Minh C, sinh năm 1998 và Dương Minh N1, sinh năm 2001, hiện 03 con đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
- Về chia tài sản chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn, bị đơn đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 9, 14 Luật hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Dương Thành N.
- Về nuôi con chung: Có 03 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Đương sự nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M khởi kiện yêu cầu ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hôn nhân gia đình về ly hôn”. Bị đơn anh Dương Thành N cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Dương Thành N có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M về việc yêu cầu ly hôn anh Dương Thành N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1]. Chị M và anh N chung sống như vợ chồng từ năm 1995, trên cơ sở tự nguyện, không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...”.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. N2, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Lẽ ra, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay, chị M và anh N phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, nhưng chị M và anh N đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh N không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình chung sống với nhau, giữa chị M và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Từ đó, vợ chồng thường xuyên gây gỗ cự cãi, dẫn đến tình cảm ngày càng bị tổn thương rạn nứt không thể hòa giải, hàn gắn. Nay anh, chị đều xác định tình cảm không còn, cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Tuy nhiên, do anh, chị không có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.
Do đó, căn cứ vào Khoản 1 Điều 14 và Khoản 2 Điều 53, Hội đồng xét xử không công nhận chị M và anh Nghĩa 1 vợ chồng.
[3.2]. Về con chung: Chị M và anh N có 03 con chung tên Dương Minh T, sinh năm 1996, Dương Ngọc Minh C, sinh năm 1998 và Dương Minh N1, sinh năm 2001, hiện 03 con đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết.
[3.3]. Về tài sản chung: Chị M và anh N đều xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.4]. Về nợ chung: Chị M và anh N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4]. Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị M phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Dương Thành N.
- Về nuôi con chung: Chị M và anh N có 03 con chung tên Dương Minh T, sinh năm 1996, Dương Ngọc Minh C, sinh năm 1998 và Dương Minh N1, sinh năm 2001, hiện 03 con đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Dương Thành N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Dương Thành N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị Tuyết M nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị M đã nộp ngày 17/6/2024 theo biên lai thu số 0004246 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tuấn Em |
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khồn công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai bên
