Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 18-10-2024

Về việc: “Tranh chấp ly hôn,

nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Trần Đình Khoa

2 Bà Vũ Thị Phương Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ánh N1 sinh năm 1983.Địa chỉ: Tổ C, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ C, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07-6-2024, trong qúa trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Anh N1 trình bày:

  • - Về hôn nhân: Bà N2 và ông D chung sống vợ chồng từ năm 2006, chung sống tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tình cảm, kinh tế, tài chính cuộc sống gia đình, không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau, không tôn trọng nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nguyên nhân chính dẫn đến làm đơn ly hôn là do ông D ngoại tình với người phụ nữ khác khoảng 8-9 năm nay. Do vậy cuộc sống chung không có hạnh phúc. Cả hai không tự giải quyết được. Tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bà N2 đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn ông D

  • - Về con chung: Bà N2 và ông D có 02 con chung tên Vũ Hoàng B, sinh ngày 02/01/2007 và Vũ Hoàng Phương N3, sinh ngày 30/4/2012.Cuộc sống ổn định về mọi mặt. Bà N2 yêu cầu nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu B và cháu N3 và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Bà N2 không yêu cầu giải quyết

Theo bản tự khai ngày 05-09-2024, trong qúa trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Vũ Văn D trình bày:

  • - Về hôn nhân: Ông D đồng ý với bà N2 về thời gian và điều kiện kết hôn như bà N2 trình bày. Vợ chồng sống chung năm 2006, đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Trong thời gian chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tình cảm không còn, bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ, không có tiếng nói chung, bà N2 hay bỏ nhà đi, đi theo bạn buôn bán bất động sản, về nhà kêu ông D ủy quyền để sang nhượng đất cho dễ thực hiện, vợ chồng ly thân hơn 01 năm, ông D cho rằng bà N2 ngoại tình nhưng không có bằng chứng. Tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, cuộc sống của ai người đó tự lo lắng, mâu thuẫn vợ chồng không tự giải quyết được. Ông D bên đạo thiên chúa do vậy ly hôn do bà N2 đơn phương ly hôn, Tòa án giải quyết theo quy định. Ông D đồng ý ly hôn khi bà N2 giao lại cho ông D ½ của số tiền vay 300.000.000₫ là 150.000.000đ, đây là khoản vay có thế chấp đất tại phường K
  • - Về con chung: Ông D và bà N2 có 02 con chung tên Vũ Hoàng B, sinh ngày 02/01/2007 và Vũ Hoàng Phương N3, sinh ngày 30/4/2012.Cuộc sống ổn định về mọi mặt. Ly hôn ông D có ý kiến là con theo ai thì người đó nuôi dưỡng, nếu ông D nuôi con thì không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
  • -Về tài sản chung và nợ chung: Ông D không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, tiến hành thu thập đủ chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, không tự giải quyết được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu B và N3 cho bà N2 trực tiếp nuôi dưỡng. Không giải quyết về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung. Bà Nguyệt phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Ánh N1 có đơn khởi kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Hiện nay ông D đang cư trú tại thành phố B. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thị Ánh N1 và ông Vũ Văn D chung sống vợ chồng từ năm 2006, chung sống tự nguyện, có đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do vậy, hôn nhân giữa bà N1 và ông D là hợp pháp.

Về mâu thuẫn: Sau thời gian chung sống giữa bà N1 và ông D phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tình cảm vợ chồng không còn, bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ, không có tiếng nói chung.Bà N2 và ông D đều xác định cuộc sống chung không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không tự giải quyết được mâu thuẫn. Bà N2 cho rằng ông D có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác khoảng 8-9 năm nay. Ông D nghi ngờ bà N2 ngoại tình nhưng không có bằng chứng, hai vợ chồng đã sống ly thân. Như vậy, có căn cứ xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông D cho rằng ông là người bên đạo thiên chúa, ông D chỉ đồng ý ly hôn khi bà N2 giao lại cho ông số tiền 150.000.000đ là không có cơ sở. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N4 được ly hôn ông Vũ Văn D

[3] Về con chung: Bà N2 và ông D xác nhận có 02 con chung tên Vũ Hoàng B, sinh ngày 02/01/2007 và Vũ Hoàng Phương N3,sinh ngày 30/4/2012. Nhận thấy, cuộc sống của các cháu đều ổn định, phát triển bình thường về mọi mặt.Cháu N3 có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà N2 nuôi dưỡng, cháu B cũng đã gần đến tuổi trưởng thành và để gắn kết tình cảm hai anh em nên giao cho bà N2 nuôi dưỡng cả cháu B. Bà N2 và ông D không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N2 không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Tại bản tự khai ngày 05/9/2024 ông D có xin Tòa giải quyết nợ 300.000.000₫ vay Ngân hàng. Tòa án đã giải thích pháp luật, đã hướng dẫn ông D nếu có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung thì cần làm đơn yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ kèm theo. Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/9/2024 và tại phiên tòa ông D khẳng định không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do vậy, Tòa án không xem xét giải quyết tài sản chung, nợ chung của bà N2 và ông D trong vụ án này, nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà Nguyệt phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ánh N1 đối với ông Vũ Văn D về việc ly hôn, nuôi con.
  2. Về hôn nhân:Bà Lê Thị Ánh N1 được ly hôn ông Vũ Văn D
  3. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Ánh N1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Vũ Hoàng B, sinh ngày 02/01/2007 và Vũ Hoàng Phương N3, sinh ngày 30/4/2012. Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ánh N1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ(Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001456, ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà N2 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - UBND P. Kim Dinh, TPBà Rịa
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ánh Nguyệt ly hôn Vũ Văn Dũng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger