Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Thọ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Quốc Vương;
  2. Ông Phan Minh Á.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Đạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa ông Nguyễn Quang Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và H quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1977; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Văn T - ông Trần Quốc K địa chỉ: khối phố E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

  3. Bị đơn: Hồ Văn C, sinh năm: 1962; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Đinh Thị T1, sinh năm: 1967; Vắng mặt.
    • Hồ Thị Mỹ L, sinh năm 1987; Vắng mặt.
    • Ông Hồ Bảo V, sinh năm: 1990; Vắng mặt.
    • Ông Hồ Bảo D, sinh năm: 1993; Vắng mặt.
    • Bà Hồ Hoàng L1, sinh năm 1996; Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam;

    Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ: đường C, khối phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

    Người đại diện của Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam. Ông Nguyễn Như N – Chức vụ Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện N. Vắng mặt.

    Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:

Năm 2002 tôi nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn Đình M – bà Ung Thị L2 523m² đất tại thửa 34 tờ bản đồ 20 loại đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Tôi đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Nay tôi làm thủ tục kê khai đăng ký để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắc là GCNQSDĐ) thì biết được thửa đất này ông Hồ Văn C, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm 28/12/2000 thửa đất số 02 tờ bản đồ số 17, diện tích 435m², loại đất màu. Thực tế thửa đất này gia đình ông C chưa từng sử dụng, trong quá cấp GCNQSDĐ, các cơ quan chức năng có sự nhầm lẫn đã cấp nhầm, không đúng đối tượng sử dụng đất.

Nay tôi yêu cầu Toà án giải quyết công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên cho tôi. Yêu cầu Toà án tuyên huỷ một phần GCNQSDĐ đối với thửa đất nêu trên trong GCNQSDĐ của ông Hồ Văn C.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Văn C trình bày:

Gia đình tôi có thửa đất tại thửa 02 tờ bản đồ số 17, diện tích 435m², loại đất màu tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam được Nhà nước cấp GCNQSDĐ thời điểm 28/12/2000. Tuy nhiên thực tế thửa đất này gia đình tôi chưa từng sử dụng, trong quá trình kê khai đăng ký cấp GCNQSDĐ, các cơ quan chức năng có sự nhầm lẫm đã cấp nhầm, không đúng đối tượng sử dụng đất. Thực tế thửa đất này anh Lê Văn T đã sử dụng ổn định, xây dựng nhà ở từ năm 2002 đến nay. Tôi xin trả lại thửa đất: 02 tờ bản đồ số 17, diện tích 435m², loại đất màu, địa chỉ thửa đất: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam cho anh T, để cơ quan có thẩm quyền quản lý cấp cho người đủ điều kiện theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo uỷ quyền Nguyễn Như N không có ý kiến đối với nội dung vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đinh Thị T1, Hồ Thị Mỹ L, Hồ Bảo V, Hồ Bảo D, Hồ Hoàng lan thống nhất lời trình bày của ông Hồ Văn C, không có ý kiến gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 65, khoản 2 Điều 101, Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu huỷ quyết định cá biệt của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: ông Lê Văn T khởi kiện yêu cầu ông Hồ Văn C trả lại 435m² đất tại thửa 02, tờ bản đồ 17 địa chỉ xã T Bắc, huyện N, tỉnh Quảng Nam và yêu cầu Toà án tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân huyện N đã cấp ngày 28/12/2000 vào sổ số 582 QSDĐ /Q1 tại thửa đất số 02 tờ bản đồ số 17, diện tích 435m², loại đất màu cho hộ ông Hồ Văn C. Do đó, quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn cho rằng thửa đất tranh chấp đang được bị đơn Hồ Văn C thế chấp tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nhưng Hợp đồng tín dụng số: 4208LAV202300630 ngày 13/6/2023 giữa Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện N với bà Đinh Thị T1 (vợ ông C) không có nội dung thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp, nên Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện N không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về diện tích đất tranh chấp:

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất tranh chấp thể hiện: phần đất các bên thống nhất tranh chấp 497,7m² trên đất tranh chấp có các tài sản của ông Lê Văn T gồm:

  • 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 35,4 m² móng đá ong, xây gạch 110, nền xi măng, xà gồ gỗ.
  • 31 cây trụ bê tông rào dây kẽm gai.
  • 09 cây keo

[2.2] Xét yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T thì thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C thừa nhận ông T là người trực tiếp quản lý sử dụng đất tranh chấp từ năm 2002 đến nay, toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông T. Nội dung biên bản hoà giải giữa ông Lê Văn T và ông Hồ Văn C ngày 25/4/2023 tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T, tại bản khai và phiên hoà giải công khai chứng cứ tại Toà án ông Hồ Văn C đều khai rằng UBND huyện N cấp chưa đúng đối tượng sử dụng đất, ông C đồng ý trả lại thửa đất nói trên cho ông T sử dụng. Ông Lê Văn T thống nhất nội dung trả đất của ông Hồ Văn C. Sự thoả thuận của đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thoả thuận giữa các đương sự theo Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.3] Xét yêu cầu của ông Lê Văn T về việc huỷ quyết định cá biệt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thấy:

Ông Hồ Văn C tuy có tên trong sổ địa chính, sổ cấp GCNQSDĐ thửa số 2, tờ bản đồ 17, diện tích 435m² đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ vào ngày 28/12/2000. Nhưng ông C thừa nhận UBND huyện N cấp nhầm, ông C chưa từng sử dụng thửa đất này, ông Lê Văn T là người sử dụng ổn định từ năm 2002 đến nay. Theo Báo cáo số 58/BC-UBND ngày 06/6/2003 xã T Bắc xác nhận UBND xã T đã cử công chức kiểm tra thực tế hiện trạng và đối chiếu hồ sơ sao lục tại Chi nhánh văn phòng Đ cho thấy: Vị trí thửa đất ông Lê Văn T kiến nghị là thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, diện tích 435m², loại đất màu và theo Hồ sơ cơ sở dữ liệu là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20, diện tích 523,9m², loại đất ở và đất cây lâu năm. Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, diện tích 435m² do ông Lê Văn T nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn Đình M và bà Ung Thị L2 vào tháng 04/2002, ông Lê Văn T làm nhà ở và trồng cây lâu năm ổn định từ năm 2002 cho đến nay. Như vậy, năm 2000, UBND huyện N giao đất cho ông C không đúng hiện trạng người sử dụng đất theo quy định khoản 1, Điều 3, Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ. Nay ông Hồ Văn C tự nguyện trả lại đất là căn cứ để thu hồi đất theo điểm c, khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2013, do đó yêu cầu của ông T về việc huỷ một phần GCNQSDĐ đối với thửa đất thửa số 2, tờ bản đồ 17, diện tích 435m² địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam có căn cứ để chấp nhận. Ông Lê Văn T được đăng ký cấp GCNQSDĐ theo khoản 2 Điều 101, Điều 166 Luật Đất đai 2013.

[2.3] Về chi phí tố tụng:

Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về án phí:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với tranh chấp đất đai 300.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận, không phân tích thêm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 65, khoản 2 Điều 101, Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:.

  1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự: ông Lê Văn T có quyền sử dụng 497,7m² đất tranh chấp và toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp tại thửa thửa đất số 02, tờ bản đồ số 17, loại đất màu (theo Hồ sơ cơ sở dữ liệu là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20) địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (có trích đo địa chính thửa đất kèm theo).
  2. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T về việc “Yêu cầu huỷ quyết định cá biệt”.
  3. Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 02, tờ bản đồ số 17, diện tích 435m² loại đất màu, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân huyện N đã cấp cho hộ ông Hồ Văn C ngày 28/12/2000 số vào sổ 582 QSDD/Q1.

  4. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm thu hồi toàn bộ diện tích thửa số 02, tờ bản đồ số 17, loại đất màu, tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ Hồ Văn C nêu trên. Ông Lê Văn T được quyền thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Nguyên đơn Lê Văn T tự nguyện chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí không có giá ngạch, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000087 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam.

  7. Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/8/2024); đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THADS tỉnh Quảng Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Thắng tranh chấp đất đai với ông Chánh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger