Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quý Thành

Ông Phạm Văn Tuất

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 16 và 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QÐST-DS ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bạch T1, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H; địa chỉ: Số E V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt và xin vắng mặt ngày 20/9/2024.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1970. Vắng mặt.

Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1974. Ngày 09/9/2024 có mặt và vắng mặt ngày 16, 20/9/2024.

Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm: 1961; nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Xuân D, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vằng mặt.
  3. Ông Nguyễn Xuân C1, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Ánh C2, sinh năm: 1968; nơi cư trú: A T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm: 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị Xuân H2, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm: 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  9. Bà Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  10. Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm: 1980; nơi cư trú: A Riverton-Cir W – CA 92683, Hoa Kỳ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T trình bày:

- Cha, mẹ ông là ông Nguyễn B (chết ngày 14/11/1984) và bà Hồ Thị C3 (chết ngày 24/10/2017). Ông B chết không để lại di chúc, Bà C3 có để lại di chúc. Di sản ông B, bà C3 để lại là nhà đất tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại tổ dân phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Ông Nguyễn B và bà Hồ Thị C3 có tất cả 13 người con gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Thùy H3, Nguyễn Xuân D, Nguyễn Xuân C1, Nguyễn Thị Ánh C2, Nguyễn Xuân N, Nguyễn Xuân K, ông Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị Xuân H2, Nguyễn Xuân C, Nguyện Xuân L1, Nguyễn Thị Mỹ N1, Nguyễn Thị Bích V, Nguyễn Xuân Tn Tín.

Ngoài ra, cha mẹ của ông Nguyễn B là cụ Nguyễn Văn Q (sinh năm 1893 – chết năm 1960) và cụ Hồ Thị M (sinh năm 1904 – chết năm 1978). Cha mẹ của bà Hồ Thị C3 là cụ Hồ T3 (sinh năm 1908 – chết năm 1985) và cụ Châu Thị C4 (sinh năm 1912 – chết năm 1991).

- Sau khi ông B chết để lại một số di sản nên bà C3 và các con có lập các văn bản thỏa thuận phân chia như sau:

  • + Giấy phân bổ đất thổ cư ngày 02/10/2008 được phân chia tài sản như sau: Ông Nguyễn Xuân N, thửa đất số 95, tờ bản đồ số 24; ông Nguyễn Xuân D, thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24; ông Nguyễn Xuân K thửa đất số 91, tờ bản đồ số 24; ông Nguyễn Xuân C1, thửa đất số 90, tờ bản đồ số 21; bà Hồ Thị C3, thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
  • + Biên bản thỏa thuận tài sản chung (không ghi rõ ngày tháng năm): Chia thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24 cho bà Hồ Thị C3. Bà C3 lập di chúc cho ông Nguyễn Xuân T được hưởng thừa kế đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (nay Nhà nước thu hồi còn lại 332m). Khi lập di chúc bà C3 vẫn còn minh mẫn và có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thùy H3.
  • + Ngày 15/9/2011, bà Trần Thị Bích V1 lập Văn bản tặng cho kỷ phần thừa kế bà được hưởng từ cha cho ông Nguyễn Xuân T. Ngày 19/5/2022, các ông, bà gồm: Nguyễn Thị Xuân H2, Nguyễn Xuân L, Nguyễn Thị Mỹ N1, Nguyễn Xuân D, Nguyễn Xuân N, Nguyễn Thị Ánh C2, Nguyễn Thị Thùy H3, Nguyễn Xuân C1 lập Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của cha, mẹ và tự nguyện giao toàn bộ tài sản cho ông Nguyễn Xuân T và ông Nguyễn Xuân T2 được sở hữu, sử dụng, định đoạt đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24 (được chứng thực tại ủy ban nhân dân thị trấn V ngày 19/5/2022).

Nay ông Nguyễn Xuân K1 và ông Nguyễn Xuân C không đồng giao lại nhà đất thửa 96, tờ bản đồ số 24 cho ông T và ông T2 nên ông T yêu cầu Tòa án chia di sản thửa kế của ông Nguyễn B theo pháp luật và chia di sản thừa kế của bà Hồ Thị C3 theo di chúc đối với nhà, đất trên. Trong trường hợp di chúc của bà C3 không có hiệu lực pháp luật thì yêu cầu chia theo pháp luật. Ông T và anh T2 yêu cầu được nhận nhà đất và sẽ thanh toán giá trị lại cho bị đơn. Ông T nhận diện tích nhà và đất phía trước (phần A theo bản vẽ của Tòa án); ông T2 nhận diện tích đất phía sau và đường luồn (phần B theo bản vẽ của Tòa án).

* Bị đơn ông Nguyễn Xuân K và ông Nguyễn Xuân C trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì đây là tài sản của cha mẹ để lại, bị đơn muốn giữ lại để thờ phụng tổ tiên ông bà, để cho con cháu sau này nhớ đến tổ tiên, có nơi đi chốn về.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân T2 trình bày:

Ông Nguyễn Xuân T2 thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông yêu cầu được nhận diện tích đất phía sau là phần B trong bản vẽ của Tòa án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy H1, bà Nguyễn Thị Mỹ N1, bà Nguyễn Thị Ánh C2, ông Nguyễn Xuân D, Nguyễn Xuân C1, ông Nguyễn Xuân N, bà Nguyễn Thị Xuân H2, ông Nguyễn Xuân L trình bày:

Về di sản thừa kế và hàng thừa kế của ông Nguyễn B và bà Hồ Thị C3, các ông, bà thống nhất như trình bày của nguyên đơn. Các ông, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các ông, bà từ chối nhận tài sản thừa kế của cha, mẹ và tự nguyện giao toàn bộ nhà, đất trên cho ông Nguyễn Xuân T và ông Nguyễn Xuân T2.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích V: Quá trình giải quyết vụ án, bà V đang định cư ở Hoa Kỳ nên Tòa án thực hiện các thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn xác định nguồn gốc tài sản của ông B, bà C3 để lại. nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của ông B theo pháp luật và xem xét di chúc của bà C3. Nguyên đơn yêu cầu nhận hiện vật và thanh toán giá trị cho những người khác của hàng thừa kế.

- Bị đơn ông C thừa nhận di sản là của ông B, bà C3 để lại nhưng ông yêu cầu giữ lại để thờ cúng và để ở nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông T2 đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu được nhận hiện vật để ở.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Theo nội dung vụ án có cơ sở xác định nguồn gốc nhà, đất là của ông B, bà C3 nhưng di chúc của bà C3 không hợp pháp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản của ông B, bà C3 theo pháp luật cho 13 người con và đề nghị xem xét công sức giữ gìn, tôn tạo cho ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Xuân K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà: Nguyễn Xuân D, Nguyễn Xuân C1, Nguyễn Thị Ánh C2, Nguyễn Xuân N, Nguyễn Thị Xuân H2, Nguyễn Xuân L, Nguyễn Thị Mỹ N1 đều yêu cầu xét xử vắng mặt; Nguyễn Thị Bích V tòa án thực hiện việc tống đạt theo qui định nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 474 và Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà nêu trên.

[2] Hội đồng xét xử xét:

[2.1] Về hàng thừa kế:

Ông Nguyễn B (chết năm 1984) và bà Hồ Thị C3 (chết năm 2017) có 13 con chung gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Thùy H3, Nguyễn Xuân D, Nguyễn Xuân C1, Nguyễn Thị Ánh C2, Nguyễn Xuân N, Nguyễn Xuân K, ông Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị Xuân H2, Nguyễn Xuân C, Nguyện Xuân L1, Nguyễn Thị Mỹ N1, Nguyễn Thị Bích V, Nguyễn Xuân Tn Tín.

Ngoài ra, cha mẹ của ông Nguyễn B là cụ Nguyễn Văn Q (sinh năm 1893 – chết năm 1960) và cụ Hồ Thị M (sinh năm 1904 – chết năm 1978). Cha mẹ của bà Hồ Thị C3 là cụ Hồ T3 (sinh năm 1908 – chết năm 1985) và cụ Châu Thị C4 (sinh năm 1912 – chết năm 1991).

Như vậy, hàng thừa kế hưởng di sản của ông B, bà C3 gồm 13 người con nêu trên tương ứng 13 kỷ phần.

[3.2] Về di sản và việc tặng cho kỷ phần:

- Về nguồn gốc nhà, đất: Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) được bà Hồ Thị C3 đăng ký sử dụng theo Sổ mục kê năm 2005 tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 và công trình trên đất khoảng 90m². Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định nhà, đất trên có nguồn gốc của ông B, bà C3 để lại. Như vậy, có cơ sở xác định nguồn gốc nhà đất trên là của ông B, bà C3 để lại nên được xác định là di sản thừa kế.

- Xét Di chúc: Theo Di chúc nguyên đơn cung cấp có nội dung bà Hồ Thị C3 cho ông Nguyễn Xuân T được hưởng thừa kế đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (nay Nhà nước thu hồi còn lại 332m). Tờ di chúc trên được đánh máy, không ghi ngày, tháng, năm và không có xác nhận hoặc công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, di chúc không có người làm chứng, dấu điểm chỉ không ghi rõ điểm chỉ ngón tay nào, ai là người giúp bà C3 lập di chúc. Do đó, nội dung và hình thức của di chúc không đảm bảo theo quy định tại Điều 630, 631, 632 Bộ luật dân sự năm 2005 và 2015 nên di chúc không hợp pháp. Do đó, ông T yêu cầu được hưởng phần di sản của bà C3 theo di chúc không được chấp nhận. Vì vậy, di sản của ông B, bà C3 để lại chia theo pháp luật.

- Xét việc cho kỷ phần thừa kế:

Ngày 15/9/2011, bà Trần Thị Bích V1 lập Văn bản tặng cho ông Nguyễn Xuân T kỷ phần thừa kế được hưởng của ông B, được công chứng tại Văn phòng C5. Như vậy, ông T được hưởng phần thừa kế của ông B để lại cho bà V1; bà V1 chỉ còn nhận phần thừa kế của bà C3 để lại.

Ngày 19/5/2022, các ông, bà gồm: Nguyễn Thị Xuân H2, Nguyễn Xuân L, Nguyễn Thị Mỹ N1, Nguyễn Xuân D, Nguyễn Xuân N, Nguyễn Thị Ánh C2, Nguyễn Thị Thùy H3, Nguyễn Xuân C1 lập Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của ông B, bà C3 và tự nguyện giao toàn bộ tài sản cho ông Nguyễn Xuân T và ông Nguyễn Xuân T2 được sở hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản trên, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân thị trấn V ngày 19/5/2022. Tại phiên tòa, ông T và ông T2 thống nhất mỗi người nhận ½ giá trị của 08 kỷ phần của các ông, bà trên đã cho nên ghi nhận.

[3.3] Xét công sức đóng góp và mỗi kỷ phần được nhận:

- Xét công sức đóng góp:

Theo nội dung phân tích nêu trên cho thấy toàn bộ tài sản là do ông B và bà C3 để lại. Tuy nhiên, sau khi ông B chết, ông T là người cùng ở với bà C3 và chăm sóc bà C3 cho đến khi qua đời. Hiện nay, ông T là người ở giữ gìn, tôn tạo và thờ cúng ông B, bà C3. Để đảm bảo được sự công bằng nên Hội đồng xét xử xác định phần công lao đóng góp của nguyên đơn tương ứng với 10% giá trị di sản của ông B, bà C3.

Theo Sổ mục kê năm 2005 cho thấy diện tích đất 343,5m² bà Hồ Thị C3 kê khai là đất ở (thực tế 332,9m² – giảm do làm đường). Biên bản định giá ngày 18/03/2024 giá trị đất ở được xác định: 332,9m² x 10.565.100đ/m² = 3.517.121.790đồng. Nhà và tài sản trên đất có giá trị 201.476.685đồng. Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 3.718.598.475đồng. Vậy công sức đóng góp của ông T tương ứng 10% được tính với số tiền là 371.860.000đồng.

- Xác định mỗi kỷ phần được hưởng:

Theo phân tích trên, phần giá trị di sản của ông B, bà C3 (sau khi trừ công sức đóng góp) chia kỷ phần cho mỗi người con được nhận là: 3.346.738.627đồng : 13 = 257.441.000đồng (làm tròn). Vậy ông K, ông C, ông T và ông T2 được nhận kỷ phần theo giá trị nêu trên. Phần của ông T và ông T2 mỗi người được nhận ½ giá trị của 08 kỷ phần được cho là 1.029.766.000đồng (làm tròn). Bà V1 cho ông T kỷ phần được nhận của ông B nên bà V1 chỉ được nhận kỷ phần được hưởng của bà C3 tương ứng với giá trị 128.721.000đồng (làm tròn).

Tổng cộng ông T nhận công sức đóng góp, kỷ phần được cho và kỷ phần được nhận giá trị là 1.787.788.000đồng (làm tròn); ông T2 nhận phần được cho và kỷ phần được nhận với giá trị là 1.287.207.000đồng (làm tròn).

[3.4] Giao hiện vật:

Xét thực tế quản lý, sử dụng các đương sự đều xác định hiện nay nhà đất trên được ông T ở cùng cha, mẹ từ nhỏ. Đồng thời, ông T là người trông nom, chăm sóc di sản và thờ cúng ông B, bà C3. Ngoài ra, ông T2 cũng là người đang ở tại nhà, đất này. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 18/3/2024 cho thấy di sản được xác định theo ký hiệu phần A và B. Các đương sự xác định trước khi bà C3 chết có di nguyện nhà, đất này để lại cho ông T phần A và ông T2 phần B. Đồng thời, ông T và ông T2 đều không có nhà, đất nào khác. Căn cứ vào thực tế sử dụng và ý kiến các đương sự có cơ sở giao hiện vật cho ông T nhà, đất ký hiệu phần A và giao cho ông T2 đất và tài sản trên phần đất ký hiệu B (hiện trạng và diện tích theo sơ đồ bản vẽ).

Đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân C và ông Nguyễn Xuân K có nguyện vọng được giữ lại nhà, đất trên. Hội đồng xét xử thấy rằng, ông B, bà C3 để lại di sản và có tranh chấp, vì vậy phải giải quyết và phân chia thừa kế theo pháp luật nên ý kiến ông C, ông K yêu cầu giữ lại nhà, đất là không có cơ sở. Đồng thời, ông C cũng yêu cầu được nhận nhà, đất và không đồng ý chia thừa kế vì không có nhà để ở. Tuy nhiên, theo kết quả xem xét thẩm định nêu trên, diện tích đất và nhà theo hiện trạng không đảm bảo chia hiện vật thành 03 phần và các đương sự cũng không đồng ý cùng chung nhận hiện vật nên Hội đồng xét xử xem xét chia giá trị cho ông C theo quy định pháp luật.

[3.5] Thanh toán giá trị:

- Ông T nhận diện tích đất 157,6m² (ký hiệu A), giá trị 1.665.059.760đồng và tài sản trên đất gồm:

  • + Nhà G1A: 74.147.953đồng
  • + Nhà G1B: 50.096.346đồng
  • + Nhà G1C: 20.919.353đồng
  • + Mái che 1, 2: 42.101.133đồng

Tổng giá trị đất và tài sản trên đất 1.852.325.000đồng (làm tròn). Vậy ông T phải thanh toán lại giá trị hiện vật nhận vượt quá là 64.537.000đồng (làm tròn). Số tiền này ông T thanh toán cho bà T4.

Ngoài ra, trên đất phần A còn có cổng 2 và bể nước không xác định giá trị giao cho ông T được sở hữu.

- Ông T2 nhận diện tích đất 175,3m² (ký hiệu B), giá trị 1.852.062.030đồng và tài sản trên đất gồm:

  • + 01 nhà vệ sinh: 7.589.080đồng
  • + Sân xi măng: 2.445.135đồng
  • + Cổng 1: 2.934.930đồng
  • + Tường rào T1: 1.242.752đồng

Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 1.866.274.000đồng (làm tròn). Vậy ông T2 phải thanh toán lại giá trị hiện vật nhận vượt quá là 579.067.000đồng (làm tròn). Số tiền này ông T2 thanh toán cho ông C, ông K và bà V1.

Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

[4] Án phí:

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Về chi phí tố tụng:

Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng và tự nguyện chịu toàn bộ nên ghi nhận sự tự nguyện.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 623, Điều 630, Điều 631, Điều 632, Điều 651, Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Điều 147, Điều 154, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 474 và Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

* Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T về chia thừa kế tài sản của ông Nguyễn B và bà Hồ Thị C3 đối với nhà, đất tại thửa số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 332,9m² (diện tích thực tế), thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
    1. Giao hiện vật:
      • - Giao cho ông Nguyễn Xuân T diện tích 157,6m², ký hiệu phần A và được sở hữu toàn bộ tài sản trên phần đất này.
      • - Giao ông Nguyễn Xuân T2 diện tích 175,3m², ký hiệu phần B và được sở hữu toàn bộ tài sản trên phần đất này.
      • (Đất và tài sản trên đất được mô tả trong Sơ đồ thửa đất và Bản vẽ hiện trạng nhà kèm theo bản án).
    2. Thanh toán giá trị:
      • - Ông Nguyễn Xuân T2 thanh toán lại cho ông Nguyễn Xuân K và ông Nguyễn Xuân C mỗi người với số tiền 257.441.000đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
      • - Ông Nguyễn Xuân T2 thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 64.184.000đồng (Sáu mươi bốn triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
      • - Ông Nguyễn Xuân T thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 64.537.000đồng (Sáu mươi bốn triệu, năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
  2. Chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Ông T đã nộp đủ.
  3. Về án phí:
    • - Ông Nguyễn Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 65.633.000đồng (Sáu mươi lăm triệu, sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng) nhưng trừ vào số tiền 17.280.000đồng tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010133 ngày 03 tháng 04 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Ông T còn phải nộp 48.353.000đồng (Bốn mươi tám triệu, ba trăm năm mươi ba nghìn đồng).
    • - Ông Nguyễn Xuân T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 50.616.000đồng (Năm mươi triệu, sáu trăm mười sáu nghìn đồng).
    • - Bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 6.436.000đồng (Sáu triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
    • - Ông Nguyễn Xuân K và ông Nguyễn Xuân C mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 12.872.000đồng (Mười hai triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
  4. Qui định:
    • - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
    • - Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Quyền kháng cáo:

    Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Các đương sự ở nước ngoài vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THA DS tỉnh Khánh Hòa;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đình Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger