TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/DS-ST Ngày: 20/9/2024 V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quý Thành
Ông Phạm Văn Tuất
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09, 16 và 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QÐST-DS ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân Tín, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị Hoa; địa chỉ: Số 5A Võ Trứ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt và xin vắng mặt ngày 20/9/2024.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Kỹ, sinh năm 1970. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Xuân Chánh, sinh năm 1974. Ngày 09/9/2024 có mặt và vắng mặt ngày 16, 20/9/2024.
Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hương, sinh năm: 1961; nơi cư trú: Tổ dân phố 09, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Nguyễn Xuân Danh, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân Cảnh, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ánh Chương, sinh năm: 1968; nơi cư trú: 120 Trần Nguyên Hãn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân Nam, sinh năm: 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố Phú Thọ 2, phường Ninh Diêm, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân Trung, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Xuân Hằng, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân Lễ, sinh năm: 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố 06, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Nghi, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố 09, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Bích Vân, sinh năm: 1980; nơi cư trú: 14151 Riverton-Cir Westminster – CA 92683, Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tín trình bày:
- Cha, mẹ ông là ông Nguyễn Bảy (chết ngày 14/11/1984) và bà Hồ Thị Chút (chết ngày 24/10/2017). Ông Bảy chết không để lại di chúc, Bà Chút có để lại di chúc. Di sản ông Bảy, bà Chút để lại là nhà đất tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại tổ dân phố 6, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ông Nguyễn Bảy và bà Hồ Thị Chút có tất cả 13 người con gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Thuỳ Hương, Nguyễn Xuân Danh, Nguyễn Xuân Cảnh, Nguyễn Thị Ánh Chương, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Xuân Kỹ, ông Nguyễn Xuân Trung, Nguyễn Thị Xuân Hằng, Nguyễn Xuân Chánh, Nguyện Xuân Lễ, Nguyễn Thị Mỹ Nghi, Nguyễn Thị Bích Vân, Nguyễn Xuân Tín.
Ngoài ra, cha mẹ của ông Nguyễn Bảy là cụ Nguyễn Văn Quynh (sinh năm 1893 – chết năm 1960) và cụ Hồ Thị May (sinh năm 1904 – chết năm 1978). Cha mẹ của bà Hồ Thị Chút là cụ Hồ Thanh (sinh năm 1908 – chết năm 1985) và cụ Châu Thị Chuyền (sinh năm 1912 – chết năm 1991).
- Sau khi ông Bảy chết để lại một số di sản nên bà Chút và các con có lập các văn bản thỏa thuận phân chia như sau:
- Giấy phân bổ đất thổ cư ngày 02/10/2008 được phân chia tài sản như sau: Ông Nguyễn Xuân Nam, thửa đất số 95, tờ bản đồ số 24; ông Nguyễn Xuân Danh, thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24; ông Nguyễn Xuân Kỹ thửa đất số 91, tờ bản đồ số 24; ông Nguyễn Xuân Cảnh, thửa đất số 90, tờ bản đồ số 21; bà Hồ Thị Chút, thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- Biên bản thỏa thuận tài sản chung (không ghi rõ ngày tháng năm): Chia thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24 cho bà Hồ Thị Chút. Bà Chút lập di chúc cho ông Nguyễn Xuân Tín được hưởng thừa kế đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (nay Nhà nước thu hồi còn lại 332m). Khi lập di chúc bà Chút vẫn còn minh mẫn và có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thuỳ Hương.
- Ngày 15/9/2011, bà Trần Thị Bích Vân lập Văn bản tặng cho kỷ phần thừa kế bà được hưởng từ cha cho ông Nguyễn Xuân Tín. Ngày 19/5/2022, các ông, bà gồm: Nguyễn Thị Xuân Hằng, Nguyễn Xuân Lễ, Nguyễn Thị Mỹ Nghi, Nguyễn Xuân Danh, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Thị Ánh Chương, Nguyễn Thị Thuỳ Hương, Nguyễn Xuân Cảnh lập Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của cha, mẹ và tự nguyện giao toàn bộ tài sản cho ông Nguyễn Xuân Tín và ông Nguyễn Xuân Trung được sở hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản trên, được chứng thực tại ủy ban nhân dân thị trấn Vạn Giã ngày 19/5/2022).
Nay ông Nguyễn Xuân Kỷ và ông Nguyễn Xuân Chánh không đồng giao lại nhà đất thửa 96, tờ bản đồ số 24 cho ông Tín và ông Trung nên ông Tín yêu cầu Tòa án chia di sản thửa kế của ông Nguyễn Bảy theo pháp luật và chia di sản thừa kế của bà Hồ Thị Chút theo di chúc đối với nhà, đất trên. Trong trường hợp di chúc của bà Chút không có hiệu lực pháp luật thì yêu cầu chia theo pháp luật. Ông Tín và anh Trung yêu cầu được nhận nhà đất và sẽ thanh toán giá trị lại cho bị đơn. Ông Tín nhận diện tích nhà và đất phía trước (phần A theo bản vẽ của Tòa án); ông Trung nhận diện tích đất phía sau và đường luồn (phần B theo bản vẽ của Tòa án).
* Bị đơn ông Nguyễn Xuân Kỹ và ông Nguyễn Xuân Chánh trình bày:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì đây là tài sản của cha mẹ để lại, bị đơn muốn giữ lại để thờ phụng tổ tiên ông bà, để cho con cháu sau này nhớ đến tổ tiên, có nơi đi chốn về.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân Trung trình bày:
Ông Nguyễn Xuân Trung thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông yêu cầu được nhận diện tích đất phía sau là phần B trong bản vẽ của Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy Hương, bà Nguyễn Thị Mỹ Nghi, bà Nguyễn Thị Ánh Chương, ông Nguyễn Xuân Danh, Nguyễn Xuân Cảnh, ông Nguyễn Xuân Nam, bà Nguyễn Thị Xuân Hằng, ông Nguyễn Xuân Lễ trình bày:
Về di sản thừa kế và hàng thừa kế của ông Nguyễn Bảy và bà Hồ Thị Chút, các ông, bà thống nhất như trình bày của nguyên đơn. Các ông, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các ông, bà từ chối nhận tài sản thừa kế của cha, mẹ và tự nguyện giao toàn bộ nhà, đất trên cho ông Nguyễn Xuân Tín và ông Nguyễn Xuân Trung.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích Vân: Quá trình giải quyết vụ án, bà Vân đang định cư ở Hoa Kỳ nên Tòa án thực hiện các thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn xác định nguồn gốc tài sản của ông Bảy, bà Chút để lại. nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Bảy theo pháp luật và xem xét di chúc của bà Chút. Nguyên đơn yêu cầu nhận hiện vật và thanh toán giá trị cho những người khác của hàng thừa kế.
Bị đơn ông Chánh thừa nhận di sản là của ông Bảy, bà Chút để lại nhưng ông yêu cầu giữ lại để thờ cúng và để ở nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trung đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu được nhận hiện vật để ở.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Theo nội dung vụ án có cơ sở xác định nguồn gốc nhà, đất là của ông Bảy, bà Chút nhưng di chúc của bà Chút không hợp pháp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản của ông Bảy, bà Chút theo pháp luật cho 13 người con và đề nghị xem xét công sức giữ gìn, tôn tạo cho ông Tín.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Xuân Kỹ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà: Nguyễn Xuân Danh, Nguyễn Xuân Cảnh, Nguyễn Thị Ánh Chương, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Thị Xuân Hằng, Nguyễn Xuân Lễ, Nguyễn Thị Mỹ Nghi đều yêu cầu xét xử vắng mặt; Nguyễn Thị Bích Vân tòa án thực hiện việc tống đạt theo qui định nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 474 và Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà nêu trên.
[2] Hội đồng xét xử xét:
[2.1] Về hàng thừa kế:
Ông Nguyễn Bảy (chết năm 1984) và bà Hồ Thị Chút (chết năm 2017) có 13 con chung gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Thuỳ Hương, Nguyễn Xuân Danh, Nguyễn Xuân Cảnh, Nguyễn Thị Ánh Chương, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Xuân Kỹ, ông Nguyễn Xuân Trung, Nguyễn Thị Xuân Hằng, Nguyễn Xuân Chánh, Nguyện Xuân Lễ, Nguyễn Thị Mỹ Nghi, Nguyễn Thị Bích Vân, Nguyễn Xuân Tín.
Ngoài ra, cha mẹ của ông Nguyễn Bảy là cụ Nguyễn Văn Quynh (sinh năm 1893 – chết năm 1960) và cụ Hồ Thị May (sinh năm 1904 – chết năm 1978). Cha mẹ của bà Hồ Thị Chút là cụ Hồ Thanh (sinh năm 1908 – chết năm 1985) và cụ Châu Thị Chuyền (sinh năm 1912 – chết năm 1991).
Như vậy, hàng thừa kế hưởng di sản của ông Bảy, bà Chút gồm 13 người con nêu trên tương ứng 13 kỷ phần.
[3.2] Về di sản và việc tặng cho kỷ phần:
- Về nguồn gốc nhà, đất: Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) được bà Hồ Thị Chút đăng ký sử dụng theo Sổ mục kê năm 2005 tại thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 và công trình trên đất khoảng 90m². Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác định nhà, đất trên có nguồn gốc của ông Bảy, bà Chút để lại. Như vậy, có cơ sở xác định nguồn gốc nhà đất trên là của ông Bảy, bà Chút để lại nên được xác định là di sản thừa kế.
- Xét Di chúc: Theo Di chúc nguyên đơn cung cấp có nội dung bà Hồ Thị Chút cho ông Nguyễn Xuân Tín được hưởng thừa kế đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 343,5m (nay Nhà nước thu hồi còn lại 332m). Tờ di chúc trên được đánh máy, không ghi ngày, tháng, năm và không có xác nhận hoặc công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, di chúc không có người làm chứng, dấu điểm chỉ không ghi rõ điểm chỉ ngón tay nào, ai là người giúp bà Chút lập di chúc. Do đó, nội dung và hình thức của di chúc không đảm bảo theo quy định tại Điều 630, 631, 632 Bộ luật dân sự năm 2005 và 2015 nên di chúc không hợp pháp. Do đó, ông Tín yêu cầu được hưởng phần di sản của bà Chút theo di chúc không được chấp nhận. Vì vậy, di sản của ông Bảy, bà Chút để lại chia theo pháp luật.
- Xét việc cho kỷ phần thừa kế:
Ngày 15/9/2011, bà Trần Thị Bích Vân lập Văn bản tặng cho ông Nguyễn Xuân Tín kỷ phần thừa kế được hưởng của ông Bảy, được công chứng tại Văn phòng công chứng Trung Tâm. Như vậy, ông Tín được hưởng phần thừa kế của ông Bảy để lại cho bà Vân; bà Vân chỉ còn nhận phần thừa kế của bà Chút để lại.
Ngày 19/5/2022, các ông, bà gồm: Nguyễn Thị Xuân Hằng, Nguyễn Xuân Lễ, Nguyễn Thị Mỹ Nghi, Nguyễn Xuân Danh, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Thị Ánh Chương, Nguyễn Thị Thuỳ Hương, Nguyễn Xuân Cảnh lập Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của ông Bảy, bà Chút và tự nguyện giao toàn bộ tài sản cho ông Nguyễn Xuân Tín và ông Nguyễn Xuân Trung được sở hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản trên, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vạn Giã ngày 19/5/2022. Tại phiên tòa, ông Tín và ông Trung thống nhất mỗi người nhận ½ giá trị của 08 kỷ phần của các ông, bà trên đã cho nên ghi nhận.
[3.3] Xét công sức đóng góp và mỗi kỷ phần được nhận:
- Xét công sức đóng góp: Theo nội dung phân tích nêu trên cho thấy toàn bộ tài sản là do ông Bảy và bà Chút để lại. Tuy nhiên, sau khi ông Bảy chết, ông Tín là người cùng ở với bà Chút và chăm sóc bà Chút cho đến khi qua đời. Hiện nay, ông Tín là người ở giữ gìn, tôn tạo và thờ cúng ông Bảy, bà Chút. Để đảm bảo được sự công bằng nên Hội đồng xét xử xác định phần công lao đóng góp của nguyên đơn tương ứng với 10% giá trị di sản của ông Bảy, bà Chút.
Theo Sổ mục kê năm 2005 cho thấy diện tích đất 343,5m² bà Hồ Thị Chút kê khai là đất ở (thực tế 332,9m² – giảm do làm đường). Biên bản định giá ngày 18/03/2024 giá trị đất ở được xác định: 332,9m² x 10.565.100đ/m² = 3.517.121.790 đồng. Nhà và tài sản trên đất có giá trị 201.476.685đồng. Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 3.718.598.475đồng. Vậy công sức đóng góp của ông Tín tương ứng 10% được tính với số tiền là 371.860.000đồng.
- Xác định mỗi kỷ phần được hưởng: Theo phân tích trên, phần giá trị di sản của ông Bảy, bà Chút (sau khi trừ công sức đóng góp) chia kỷ phần cho mỗi người con được nhận là: 3.346.738.627đồng : 13 = 257.441.000đồng (làm tròn). Vậy ông Kỹ, ông Chánh, ông Tín và ông Trung được nhận kỷ phần theo giá trị nêu trên. Phần của ông Tín và ông Trung mỗi người được nhận ½ giá trị của 08 kỷ phần được cho là 1.029.766.000đồng (làm tròn). Bà Vân cho ông Tín kỷ phần được nhận của ông Bảy nên bà Vân chỉ được nhận kỷ phần được hưởng của bà Chút tương ứng với giá trị 128.721.000đồng (làm tròn).
Tổng cộng ông Tín nhận công sức đóng góp, kỷ phần được cho và kỷ phần được nhận giá trị là 1.787.788.000đồng (làm tròn); ông Trung nhận phần được cho và kỷ phần được nhận với giá trị là 1.287.207.000đồng (làm tròn).
[3.4] Giao hiện vật:
Xét thực tế quản lý, sử dụng các đương sự đều xác định hiện nay nhà đất trên được ông Tín ở cùng cha, mẹ từ nhỏ. Đồng thời, ông Tín là người trông nom, chăm sóc di sản và thờ cúng ông Bảy, bà Chút. Ngoài ra, ông Trung cũng là người đang ở tại nhà, đất này. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 18/3/2024 cho thấy di sản được xác định theo ký hiệu phần A và B. Các đương sự xác định trước khi bà Chút chết có di nguyện nhà, đất này để lại cho ông Tín phần A và ông Trung phần B. Đồng thời, ông Tín và ông Trung đều không có nhà, đất nào khác. Căn cứ vào thực tế sử dụng và ý kiến các đương sự có cơ sở giao hiện vật cho ông Tín nhà, đất ký hiệu phần A và giao cho ông Trung đất và tài sản trên phần đất ký hiệu B (hiện trạng và diện tích theo sơ đồ bản vẽ).
Đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Chánh và ông Nguyễn Xuân Kỹ có nguyện vọng được giữ lại nhà, đất trên. Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Bảy, bà Chút để lại di sản và có tranh chấp, vì vậy phải giải quyết và phân chia thừa kế theo pháp luật nên ý kiến ông Chánh, ông Kỹ yêu cầu giữ lại nhà, đất là không có cơ sở. Đồng thời, ông Chánh cũng yêu cầu được nhận nhà, đất và không đồng ý chia thừa kế vì không có nhà để ở. Tuy nhiên, theo kết quả xem xét thẩm định nêu trên, diện tích đất và nhà theo hiện trạng không đảm bảo chia hiện vật thành 03 phần và các đương sự cũng không đồng ý cùng chung nhận hiện vật nên Hội đồng xét xử xem xét chia giá trị cho ông Chánh theo quy định pháp luật.
[3.5] Thanh toán giá trị:
- Ông Tín nhận diện tích đất 157,6m² (ký hiệu A), giá trị 1.665.059.760đồng và tài sản trên đất gồm:
- Nhà G1A: 74.147.953đồng
- Nhà G1B: 50.096.346đồng
- Nhà G1C: 20.919.353đồng
- Mái che 1, 2: 42.101.133đồng
Tổng giá trị đất và tài sản trên đất 1.852.325.000đồng (làm tròn). Vậy ông Tín phải thanh toán lại giá trị hiện vật nhận vượt quá là 64.537.000đồng (làm tròn). Số tiền này ông Tín thanh toán cho bà Trang.
Ngoài ra, trên đất phần A còn có cổng 2 và bể nước không xác định giá trị giao cho ông Tín được sở hữu.
- Ông Trung nhận diện tích đất 175,3m² (ký hiệu B), giá trị 1.852.062.030đồng và tài sản trên đất gồm:
- 01 nhà vệ sinh: 7.589.080đồng
- Sân xi măng: 2.445.135 đồng
- Cổng 1: 2.934.930đồng
- Tường rào T1: 1.242.752đồng
Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 1.866.274.000đồng (làm tròn). Vậy ông Trung phải thanh toán lại giá trị hiện vật nhận vượt quá là 579.067.000đồng (làm tròn). Số tiền này ông Trung thanh toán cho ông Chánh, ông Kỹ và bà Vân.
Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.
[4] Án phí: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng và tự nguyện chịu toàn bộ nên ghi nhận sự tự nguyện.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 623, Điều 630, Điều 631, Điều 632, Điều 651, Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Điều 147, Điều 154, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 474 và Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tín về chia thừa kế tài sản của ông Nguyễn Bảy và bà Hồ Thị Chút đối với nhà, đất tại thửa số 96, tờ bản đồ số 24, có diện tích 332,9m² (diện tích thực tế), thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Giao hiện vật:
- - Giao cho ông Nguyễn Xuân Tín diện tích 157,6m², ký hiệu phần A và được sở hữu toàn bộ tài sản trên phần đất này.
- - Giao ông Nguyễn Xuân Trung diện tích 175,3m², ký hiệu phần B và được sở hữu toàn bộ tài sản trên phần đất này.
- Thanh toán giá trị:
- - Ông Nguyễn Xuân Trung thanh toán lại cho ông Nguyễn Xuân Kỹ và ông Nguyễn Xuân Chánh mỗi người với số tiền 257.441.000đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
- - Ông Nguyễn Xuân Trung thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Bích Vân số tiền 64.184.000đồng (Sáu mươi bốn triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
- - Ông Nguyễn Xuân Tín thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Bích Vân số tiền 64.537.000đồng (Sáu mươi bốn triệu, năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
- Chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tín chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Ông Tín đã nộp đủ.
- Về án phí:
- - Ông Nguyễn Xuân Tín phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 65.633.000đồng (Sáu mươi lăm triệu, sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng) nhưng trừ vào số tiền 17.280.000đồng tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010133 ngày 03 tháng 04 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Ông Tín còn phải nộp 48.353.000đồng (Bốn mươi tám triệu, ba trăm năm mươi ba nghìn đồng).
- - Ông Nguyễn Xuân Trung phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 50.616.000đồng (Năm mươi triệu, sáu trăm mười sáu nghìn đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Bích Vân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 6.436.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
- - Ông Nguyễn Xuân Kỹ và ông Nguyễn Xuân Chánh mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 12.872.000đồng (Mười hai triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
- Qui định:
- - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- - Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
(Đất và tài sản trên đất được mô tả trong Sơ đồ thửa đất và Bản vẽ hiện trạng nhà kèm theo bản án).
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Các đương sự ở nước ngoài vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đình Phương |
Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 54/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
