|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/DS - ST Ngày 02- 5- 2024 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đặng Thị Bé Em;
- Ông Lâm Thành Thông.
Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chiến Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 377/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/QĐST –DS ngày 12/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SGTT;
Địa chỉ: Số 266 – 268, NKKN, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn G-GĐ
Địa chỉ: 14C1 Đại lộ Đồng Khởi, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Ông Nguyễn Văn G ủy quyền cho bà Huỳnh Như N, sinh năm 1993. Địa số 14C1 Đại lộ Đồng Khởi, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre theo văn bản ủy quyền số 605/2023/UQ- CNBT ngày 30/11/2023. Có mặt.
-Bị đơn: Ông Thái Duy T, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Số 185/1D ấp ATA, xã MTA, thành phố Bến BT, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng đại diên theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/10/2022 ông Thái Duy T có ký kết đề nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT - Chi Nhánh Bến Tre cấp thẻ tín dụng. Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT - Chi Nhánh Bến Tre đã tiến hành xác minh nhu cầu sử dụng và tình hình tài chính, thu nhập thực tế của ông T nên đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông T theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và kiêm hợp đồng ngày 16/11/2022. Loại thẻ Mastercard Only One, hạn mức tín dụng thẻ được cấp là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất 2,6%/tháng, thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm và thẻ tự động gian hạn thời gian sử dụng.
Theo hợp đồng hàng tháng ông T phải thanh toán 5% dư nợ đầu kỳ (chốt dư nợ đầu kỳ ngày 17 tây hàng tháng). Ngân hàng sẽ cho ông T 25 ngày để thanh toán. Nếu ông T phát sinh thanh toán trễ hạn sẽ bị thu phí phạt bằng 6% (tối thiểu 80.000 đồng) số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ đó.
Sau khi cấp thẻ ông Thái Duy T đã thực hiện giao dịch với số tiền 19.366.000 đồng. Trong quá trình thanh toán hợp đồng từ ngày 01/10/2020 đến ngày 10/5/2023 ông T thanh toán tổng cộng 2.300.000 đồng. Từ ngày 11/5/2023 cho đến nay ông T đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán đủ số tiền tối thiểu hàng tháng là 5% để duy trì sử dụng thẻ dẫn đến thẻ bị quá hạn.
Thẻ tín dụng thẻ Mastercard Only One của ông T đang quá hạn, tính đến ngày 02/5/2024 ông Thái Duy T còn nợ số tiền 31.413.359 đồng (trong đó vốn gốc 22.964.933 đồng, lãi trong hạn 5.632.284 đồng, lãi quá hạn là 2.816.142 đồng).
Tại phiên tòa bà Huỳnh Như Ngọc là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT yêu cầu ông Thái Duy T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT - Chi Nhánh Bến Tre số tiền 31.413.359 đồng (trong đó vốn gốc 22.964.933 đồng, lãi trong hạn 5.632.284 đồng, lãi quá hạn là 2.816.142 đồng).
Bị đơn ông Thái Duy T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Thái Duy T vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
- Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Về thẩm quyền: Bị đơn ông Thái Duy T có đăng ký thường tại ấp ATA, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về tố tụng: Bị đơn ông Thái Duy T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Thái Duy T.
- Về nội dung vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT - Chi Nhánh Bến Tre yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thái Duy T phải trả cho ngân hàng TMCP SGTT - Chi Nhánh Bến Tre số tiền 31.413.359 đồng (trong đó vốn gốc 22.964.933 đồng, lãi trong hạn 5.632.284 đồng, lãi quá hạn là 2.816.142 đồng).
- Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/11/2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Thương mại Cổ phần SGTT; phiếu yêu cầu ngày 22/11/2022 (nhận thẻ và mã pin)”. Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông T đều vắng mặt. Tuy nhiên ông T vẫn còn cư trú ấp ATA, xã MTA thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã nhận được bản sao tài liệu chứng cứ là căn cứ khởi kiện nguyên đơn; Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do; ông T cũng không có ý kiến phản đối gì đối với chứng cứ và yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Do đó có căn cứ xác định ông T có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/11/2022 và phiếu yêu cầu ngày 22/11/2022 (nhận thẻ và mã pin)”. Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng nên Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT – Chi nhánh Bến Tre khởi kiện yêu cầu ông T có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền 31.413.359 đồng (trong đó vốn gốc 22.964.933 đồng, lãi trong hạn 5.632.284 đồng, lãi quá hạn là 2.816.142 đồng) là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án; Ông Thái Duy T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật được tính như sau: 31.413.359 đồng x 5%= 1.571.000 đồng.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, điểm b, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 227, 228, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 463, Điều 466, Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT – Chi nhánh Bến Tre.
Buộc ông Thái Duy T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT –Chi nhánh Bến Tre số tiền 31.413.359 (Ba mươi mốt triệu, bốn trăm mười ba nghìn, ba trăm năm mươi chín) đồng trong đó vốn gốc 22.964.933 đồng, lãi trong hạn 5.632.284 đồng, lãi quá hạn là 2.816.142 đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ông Thái Duy T phải nộp là 1.571.000 (Một triệu, năm trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả số tiền 652.000 (Sáu trăm, năm mươi hai nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000890 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
Trường hợp bản, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Phê |
Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 54/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP SGTT tranh chấp hợp đồng tín dụng với Thái Duy Tân
