|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 54/2024/DS-PT Ngày: 23/4/2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương.
Ông Phạm Trường Du.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 20/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Ngô Đình D, sinh năm 1979.
Chị Trần Thị T, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (đều vắng mặt có lý do đã uỷ quyền).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Đình C, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
* Bị đơn: Bà Lê Thị X, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh C1 (chồng bà X).
Địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T trình bày:
Ngày 23/6/2015 bà Lê Thị X có vay của vợ chồng anh, chị 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng). Khi vay, hai bên có viết giấy vay tiền, thời hạn trả nợ là ngày 23/11/2015, lãi suất vay là 1,5%/tháng. Hết thời hạn trả nợ, bà X vẫn không trả được nợ và lãi, mới chỉ trả được cho anh số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và đến ngày 01/01/2022 hai bên chốt số nợ còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Vì vậy anh, chị yêu cầu Bà X phải trả cho anh số nợ còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Đối với số tiền lãi anh D không yêu cầu bà X phải trả lãi.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Ngô Đình C (bố đẻ của anh D) vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị X phải trả cho con trai ông số tiền gốc còn nợ là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Đối với việc bà X cho rằng đã trả cho anh D số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) và ông là người nhận tiền, ông khẳng định số tiền này là của khoản nợ khác giữa bà X với anh D, khi bà X trả tiền trên, anh D đã trả lại giấy vay nợ cho bà X, do đó số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) không liên quan đến số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng) mà bà X vay của anh D. Trong khi đó, vào đầu tháng 9/2023 hai bên đã có tranh luận về số tiền này, bà X đã đồng ý đây là số tiền vay của một món tiền khác không liên quan đến số tiền vay anh D 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), vì vậy tại phiên hòa giải ngày 07/9/2023, bà X đã thống nhất số tiền gốc còn nợ của anh D là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).
Cùng thời điểm anh D khởi kiện bà X thì ông C cũng khởi kiện bà X về một món nợ khác, trong quá trình giải quyết, bà X luôn cho rằng số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) là trả cho số nợ của bà X với vợ chồng ông, đến trước khi xét xử bà X lại cho rằng đã trả cho vợ chồng ông số tiền gốc là 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng) và trả cho vợ chồng anh D số tiền gốc 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Trong khi đó ngày 01/11/2022 bà X còn chốt nợ với anh D số tiền gốc đã vay còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Vì vậy toàn bộ lời khai của bà X là rất mâu thuẫn, không thống nhất và bà X không có chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình. Ông C đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà X.
* Tại bản tự khai ngày 17/8/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị X trình bày:
Bà có vay của anh D, chị T là con trai và con dâu ông C số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng), quá trình vay, bà đã trả được số tiền gốc là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) còn nợ lại anh D số tiền gốc là 100.000.000₫
3
(một trăm triệu đồng), do điều kiện kinh tế gia đình bà gặp nhiều khó khăn, vì vậy bà đề nghị vợ chồng anh D cho bà được trả dần số tiền trên.
Tại phiên hòa giải ngày 08/12/2023 và tại phiên tòa, bà cho rằng vào tháng 10/2022 bà đã trả thêm cho anh D số tiền gốc là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) và người nhận là ông Ngô Đình C (bố đẻ anh D) do đó đến thời điểm xét xử, bà chỉ còn nợ vợ chồng anh D số tiền gốc là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) nên bà chỉ đồng ý trả số tiền gốc này cho vợ chồng anh D
* Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh C1 (chồng bà X) đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có văn bản ý kiến, không đến Tòa án để làm việc vì vậy không có lời khai của ông C1.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Điều 463; Điều 466; Điều 470; Điều 357 của Bộ luật Dân sự (BLDS); Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, khoản 3 Điều 228; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS); Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị X trú tại: SN D đường L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa phải trả cho anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T, trú tại: tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Ngoài ra Bản án còn quyết định về lãi xuất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xử sơ thẩm, bị đơn bà Lê Thị X đã kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, bà cho rằng chỉ nợ anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T số tiền 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng). Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS về phiên tòa phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng: Không chấp nhân kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị X, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Về án phí phúc thẩm bị đơn bà Lê Thị X là người cao tuổi nên được miễn án phí.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T cho bà Lê Thị X vay số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), có viết giấy vay tiền. Đến thời hạn trả nợ, bà X vẫn không trả hết được nợ và lãi, mới chỉ trả được cho anh D số tiền 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng) và đến ngày 01/01/2022 hai bên chốt số nợ còn lại là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Vì vậy nguyên đơn yêu cầu Bà X phải trả số nợ còn lại là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất. Bà X thừa nhận có vay tiền của anh D, chị T số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Bà đã trả nhiều lần nay chỉ còn nợ là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Hai bên không thống nhất được với nhau về số tiền nợ, anh D đã đòi nhiều lần nhưng bà X không trả nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó có đủ căn cứ để xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Xét tính hợp pháp của kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/02/2024 bà Lê Thị X có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 273 BLTTDS nên đơn kháng cáo là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật được thụ lý, xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Về Nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị X:
[3.1] Đối với số tiền nợ gốc: Ngày 23/6/2015 vơi chồng anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T có cho bà Lê Thị X vay số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng), khi viết giấy vay nợ, hai bên thể hiện rõ về thời hạn trả nợ là ngày 23/11/2015 nhưng không thể hiện lãi suất vay. Tuy nhiên cả hai bên đều cho rằng vay có lãi và chỉ thỏa thuận miệng, phía nguyên đơn trình bày lãi suất vay là 1,5%/tháng; phía bị đơn cho rằng đã phải trả lãi với mức 2%/tháng. Đối với số tiền đã trả nợ hai bên không thống nhất được số tiền gốc còn nợ. Nguyên đơn cho rằng bị đơn còn nợ số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng), bị đơn cho rằng đã trả cho nguyên đơn số tiền 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng) vì vậy chỉ còn nợ lại 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng). Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà X phải trả số tiền gốc còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) đối với số tiền lãi thì không yêu cầu bị đơn phải trả.
Xét yêu cầu của các bên đương sự đối với tiền gốc thấy rằng: Ngày 01/11/2022, bà X đã chốt số tiền gốc còn nợ anh D là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) nhưng bà lại cho rằng đã trả thêm cho anh D 60.000.000₫ (sáu mươi
5
triệu đồng) vào tháng 10/2022 nên còn nợ lại số tiền gốc 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng) là không hợp lý. Bởi lẽ nếu bà X đã trả thì phải trừ đi trong số nợ gốc nhưng ngày 01/11/2022 hai bên vẫn còn chốt nợ số tiền còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Hay tại bản tự khai ngày 17/8/2023 bà X vẫn thừa nhận số tiền gốc đang còn nợ lại vợ chồng anh D, chị T là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và tại phiên hoà giải ngày 07/9/2023 giữa anh D, chị T và bà X đều thống nhất và thừa nhận số tiền gốc bà X đang còn nợ anh D, chị T là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).
Bên cạnh đó, đối với số tiền ông C đã nhận tại vụ kiện dân sự giữa ông C và bà X, lúc thì bà X cho rằng số tiền đã đưa cho ông C là trả vào số nợ gốc của anh D, lúc thì cho rằng trả nợ gốc cho ông C và số tiền này cũng không thống nhất, lúc thì khai đã trả 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng), lúc thì khai trả 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Hơn nữa ông C không thừa nhận số tiền ông đã nhận là được trừ trong số tiền gốc 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) của anh D mà đây là một khoản vay khác, khi trả tiền, anh D đã trả lại giấy vay nợ cho bà X. Bà X đưa ra quan điểm nhưng không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định bà Lê Thị X đang còn nợ anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T số tiền gốc đã vay còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Cấp sơ thẩm tuyên xử buộc bà Lê Thị X phải trả cho anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T toàn bộ số tiền nợ gốc trên theo yêu cầu khởi kiện của anh D là có căn cứ pháp luật.
[3.2] Về tiền lãi: Anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T không yêu cầu bà Lê Thị X phải trả lãi của khoản tiền vay đang nợ. Việc anh D, chị T không yêu cầu tính lãi suất của số tiền nợ là hoàn toàn tự nguyện, nên cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
[4] Từ những phân tích và nhận định trên, HĐXX nhận thấy kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị X là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX và có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm nên bà Lê Thị X phải chịu án phí phúc thẩm dân sự. Tuy nhiên bà Lê Thị X là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ. Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 463, Điều 466 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
6
Xử. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị X. Giữ nguyên Quyết định của Bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Buộc bà Lê Thị X phải có trách nhiệm trả cho anh Ngô Đình D và chị Trần Thị T số tiền nợ gốc còn lại là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).
Án phí phúc thẩm dân sự. Miễn án phí cho bà Lê Thị X.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: THẨM
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |
Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 54/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Đình D - Lê Thị X “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
