Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-PT

Ngày: 20/05/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Tín

Bà Lê Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Liên – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Đình H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1954; địa chỉ: 4 H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Bị đơn: Ông Phạm Đình Q, sinh năm 1937 và bà Lương Thị S, sinh năm: 1937; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lưu Thị Ngọc L, sinh năm: 1985; địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ liên hệ: Văn phòng luật sư Phạm Thái H1 - đường L, tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phạm Thái H1 - Văn phòng luật sư Phạm Thái H1; địa chỉ: đường L, tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Á, sinh năm: 1975; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  2. Ông Phạm Trọng H2, sinh năm: 1995; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  3. Ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm: 1981; địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Bản án sơ thẩm và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Đình H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông H và cha là Phạm Đình Q đã cùng khai hoang vùng đất G. Năm 1992, cha ông H cho con gái là Phạm Thị H3 phần diện tích đất khai hoang được, còn phần diện tích đất còn lại khoảng hơn 1000m² là ông H tiếp tục khai hoang và sử dụng thửa đất để nuôi bò. Ngày 06/10/1996, ông H đã làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất 959 tờ bản đồ số 7 xã D, diện tích 1.050 m², đề nghị được cấp đất cho hộ gia đình ông (gồm ông H, bà Nguyễn Thị Hồng Á, con trai Phạm Trọng H2). Ngày 23/12/1996, hộ gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00073 đối với thửa đất nêu trên và cất giữ tại nhà của cha mẹ ông vì lúc đó ông còn ở chung với cha mẹ. Năm 2012, ông phát hiện mình bị mất giấy chứng nhận nên có làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã D và xã D thông báo về việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2012, thì ông H mới biết cha ông đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Tháng 10/2020, cha ông Hợp yêu cầu Ủy ban nhân dân xã D tranh chấp liên quan đến thửa đất 959 tờ bản đồ số 7 xã D. Tại biên bản hòa giải ngày 20/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã D, ông H đã đồng ý chuyển cho cha ông một nửa diện tích đất thuộc thửa 959 tờ bản đồ số 7 xã D nhưng ông Q thay đổi ý kiến và không đồng ý nhận. Ông Q yêu cầu ông H trả lại toàn bộ diện tích đất thuộc thửa 959 vì cho rằng đã hoán đổi thửa đất 1178 (một phần thửa 519 tờ bản đồ số 7 xã D, thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha mẹ ông H năm 1997). Thửa đất 1178 mà vợ chồng ông xây dựng nhà để ở là do cha mẹ ông tặng cho ông vào tháng 7/2007. Ông H xác định không có việc hoán đổi đất, nếu có việc hoán đổi đất thì hai bên phải làm thủ tục theo quy định pháp luật. Thửa đất 959 tờ bản đồ số 7 xã D đã đăng ký vào sổ địa chính của xã D và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H, bà Á.

Sau đó, ông H làm đơn gửi đến ủy ban xã D yêu cầu ông Q trả lại cho ông H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012 - 2013, ông H để cha mẹ ông trồng chuối với diện tích khoảng 300m² để có thu nhập thêm. Diện tích đất còn lại ông H vẫn sử dụng liên tục từ năm 1992 đến nay. Ông Q và bà S không sử dụng toàn bộ thửa 959. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, vợ chồng ông H cày xới đất để trồng cây ngắn ngày thì ông Q và bà S ngăn cản và công an xã D có lập biên bản.

Ngoài ra, trên đất có chuồng bò và hàng rào lưới B40 hiện tại là do ông H xây dựng và rào dậu. Chuồng gà bằng lưới B40 là vợ chồng ông H cho vợ chồng ông T1, bà L1 dựng tạm để nuôi gà.

Vì vậy, ông H yêu cầu ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S trả lại cho ông diện tích đất tại thửa đất 959 tờ bản đồ số 7 xã D, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00073 ngày 23/12/1996 mang tên hộ ông bà Phạm Đình H, Nguyễn Thị Hồng Á theo diện tích đo vẽ thực tế 1.184,4m², xung quanh thửa đất có ranh rào và không ai tranh chấp. Ông Hợp đồng ý đối với yêu cầu độc lập của bà Á về việc yêu cầu ông Q, bà S trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông H, bà Á.

* Bị đơn ông Phạm Đình Q, bà Lương Thị S và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Vợ chồng ông Q, bà S đã hoán đổi thửa đất 1178 để lấy thửa đất 959, nên ông Q và bà S giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà Á. Việc hoán đổi 02 thửa đất này chỉ nói miệng, hai bên chỉ giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhau, không lập thành văn bản. Bị đơn đã nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Tòa án và tạm giữ trong hồ sơ vụ án. Vợ chồng ông Q không đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Khi ông Q và bà S yêu cầu ông H thực hiện các thủ tục để sang tên đối với thửa đất 959, để ông bà phân chia đất cho những người con khác thì ông H không đồng ý. Năm 2020, ông Q gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã D yêu cầu giải quyết tranh chấp giữa ông Q và ông H. Theo đó, ông Q yêu cầu ông H làm thủ tục sang tên cho ông Q đối với thửa đất 959, nếu không thì ông H phải trả lại cho ông Q một phần thửa đất 519, nhưng ông H không đồng ý. Ông H chỉ đồng ý trả lại cho ông Q một nửa thửa đất 959 nên ông Q không đồng ý.

Quá trình sử dụng đất: Trước đây, vợ chồng ông Q, bà S có trồng một số cây cối trên đất nhưng ông H đã chặt bỏ. Số cây chuối trên đất là do vợ chồng ông Q, bà S trồng, còn lại những cây trồng khác là do vợ chồng ông H trồng. Hàng rào B40 hiện nay giáp với đường đi tại thửa đất là do ông Q rào. Chuồng bò là của vợ chồng ông H.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vợ chồng ông Q, bà S không đồng ý. Đối với yêu cầu độc lập của bà Á về việc yêu cầu vợ chồng ông Q, bà S trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Q và bà S không đồng ý vì yêu cầu của bà Á là trái pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị Hồng Á trình bày:

Bà Á thống nhất với trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc thửa đất tranh chấp, quá trình sử dụng và các tài sản trên đất. Việc ông Q, bà S không đồng ý giao lại thửa đất cho vợ chồng bà quản lý, sử dụng là trái pháp luật.

Vì vậy, việc ông Q, bà S giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cũng trái pháp luật. Bà Á yêu cầu ông Q, bà S trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho hộ gia đình bà Á.

* Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Trọng H2 trình bày:

Ông H2 là con của ông H và bà Á. Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông H, bà Á và không bổ sung gì thêm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu L1 và ông Huỳnh Ngọc T1 trình bày:

Ông T1 và bà L1 là người hàng xóm với vợ chồng ông Q và vợ chồng ông H. Ông T1 có đi làm chung với ông H từ năm 2002. Đến khoảng năm 2009 thì vợ chồng ông T1 có xây nhà giáp ranh với thửa đất hiện đang tranh chấp, có xin ông Hợp phần diện tích đất phía sau nhà của ông T1 khoảng 20m² để rào lưới B40 để nuôi gà và để các vật dụng, không hỏi xin ông Q và bà S. Khi ông Q thấy vợ chồng ông rào thì có bảo rào thêm nhưng ông không rào thêm nữa vì không biết đất của ai. Khi nào ông H yêu cầu tháo dở trả lại thì vợ chồng ông T1 trả lại. Vợ chồng ông T1 thấy ông H sử dụng liên tục trên phần đất hiện đang tranh chấp, trừ phần đất có trồng chuối thì thấy ông Q có đến chăm sóc và thu hoạch. Ông H sử dụng đất trồng cỏ, nuôi bò, ụ rơm như hiện nay vẫn còn.

* Những người làm chứng trình bày:

Bà Nguyễn Thị Cẩm N và ông Nguyễn Bình Y trình bày tại bản tự khai ngày 29/12/2021: Năm 2021, vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 2138 tờ bản đồ số 7 xã D. Khi ông nhận đất có sự chứng kiến của bà H3, ông H và chính quyền địa phương, có xác định ranh giới giáp với thửa đất mà hiện nay ông H đang tranh chấp là đóng hai cây cọc để xác định ranh.

Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Đình H đối với yêu cầu “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Buộc ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp theo đo vẽ thực tế 1184,4 m² đất (ONT: 200m² và CLN: 984,4m²) tại thửa 959, tờ bản đồ số 07 xã D, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00073 cấp ngày 23/12/1996 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ ông Phạm Đình H và bà Nguyễn Thị Hồng Á, có sơ đồ bản vẽ kèm theo mảnh trích đo địa chính số 116-2022 thôn Q, xã D.

- Ông Phạm Đình H và bà Nguyễn Thị Hồng Á thanh toán cho ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) tiền giá trị tài sản có trên đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu của bị đơn.

- Buộc ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00073 cấp ngày 23/12/1996 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ ông Phạm Đình H và bà Nguyễn Thị Hồng Á. Bà Nguyễn Thị Hồng Á và ông Phạm Đình H nhận lại giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bản án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 02/08/2023, bị đơn ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo cho rằng thửa đất 959 bị đơn và nguyên đơn đã thỏa thuận miệng hoán đổi từ năm 2007 nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Nguyên đơn cho rằng bị đơn không có giấy tờ chứng cứ chứng minh có việc hoán đổi đất giữa thửa 959 và thửa 519. Năm 2007, ông Q cho nguyên đơn một phần thửa 519 có lập hợp đồng tặng cho, không có nội dung hoán đổi nên bị đơn trình bày không có cơ sở nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nhà nước công nhận cho nguyên đơn năm 1996. Bị đơn cho rằng năm 2007 giữa nguyên đơn và bị đơn hoán đổi thửa đất 959 với một phần thửa 519 nhưng theo hợp đồng tặng cho giữa hai bên không có nội dung hoán đổi nên lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở và việc bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên nguyên đơn là không có căn cứ. Do đó, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Ngày 28/07/2023, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử vụ án. Ngày 02/08/2023, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án nêu trên. Như vậy, đơn kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

[2.1]. Bị đơn cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trả lại đất và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng:

- Nguồn gốc thửa đất tranh chấp 959, tờ bản đồ 07, xã D: Theo Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 06/10/1996 cho thấy thửa đất 959, diện tích 1.050m² (thực tế 1.184,4m²), tờ bản đồ 07, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa được ông Phạm Đình H và bà Nguyễn Thị Hồng Á đứng tên kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/12/1996. Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 19/9/1996 đứng tên ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S cho thấy trong tất cả các thửa đất đứng kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai ông, bà không có thửa đất 959, tờ bản đồ 07, xã D. Mặt khác, nguyên đơn và bị đơn đều xác định trước năm 1996, ông Q và ông H cùng khai hoang và một phần đất đã được ông Q kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần còn lại ông Q đã cho ông H đứng ra kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H trình bày lý do khai nội dung như trong tờ khai nêu trên là vì cùng chung với ông Q khai hoang trước năm 1996 nên ông H kê khai đã ghi phần nội dung đơn “do Ủy ban cấp 1983 cho cha”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương xác định không có việc chính quyền địa phương ban hành quyết định cấp đất cho ông Phạm Đình Q. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều xác định thời điểm năm 1996, ông Q và ông H là cha con ở cùng nhà và việc kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cùng thời điểm nhưng bị đơn không kê khai thửa đất trên mà chính ông H mới là người kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc ông Q đã đồng ý cho ông Hợp phần đất cùng khai hoang là thửa 959 và ông H đã đứng tên kê khai đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 đúng pháp luật nên nguyên đơn khởi kiện đòi lại thửa đất nêu trên là có cơ sở.

- Đối với diện tích theo giấy chứng nhận và thực tế: Chi Nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai cung cấp thông tin tại biên bản xác minh ngày 07/12/2022 và ngày 22/5/2023 là do số liệu đo đạc biến động. Đồng thời, ranh đất hiện tại của các chủ sử dụng đất liền kề không chồng lấn nên diện tích nguyên đơn đòi lại theo diện tích thực tế là có cơ sở.

[2.2]. Bị đơn cho rằng có việc hoán đổi thửa đất 959 với một phần thửa đất 519 giữa nguyên đơn và bị đơn:

Theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 22/4/2007 cho thấy ông Phạm Đình Q, bà Lương Thị S đã tặng cho ông Phạm Đình H, bà Nguyễn Thị Hồng Á một phần thửa đất 519 (phần ông H được cho tách thành thửa 1178, diện tích 684m², tờ bản 07) được Ủy ban nhân dân xã D chứng thực. Nội dung hợp đồng trên không thể hiện việc hoán đổi đất giữa hai bên đối với thửa 519 với thửa 959 như bên bị đơn trình bày. Mặt khác, bị đơn cho rằng việc hoán đổi trên hai bên thống nhất và chỉ nói bằng miệng với nhau, không lập giấy tờ gì nên nguyên đơn mới giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn giữ. Tuy nhiên, nguyên đơn cho rằng từ năm 1996 được cấp giấy chứng nhận và ở chung với ông Q, bà S nhưng sau đó phát hiện bị mất giấy chứng nhận thì đã làm đơn báo mất tại Ủy ban nhân dân xã D để xin cấp lại giấy chứng nhận mới nhưng đã bị ông Q, bà S khiếu nại nên xảy ra tranh chấp từ năm 2012. Hội đồng xét xử thấy rằng việc hoán đổi đất bị đơn xác định chỉ nói bằng miệng và hợp đồng tặng cho cũng không thể hiện nội dung hoán đổi nên không có cơ sở để xác định có việc hoán đổi như bị đơn trình bày. Việc bị đơn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nguyên đơn báo mất, đây là tình tiết vụ án không đủ chứng cứ chứng minh có việc hoán đổi nên không chấp nhận ý kiến bị đơn trình bày.

[2.3]. Bị đơn cho rằng bà Nguyễn Thị Hồng Á yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên:

Theo phân tích trên, việc nguyên đơn kê khai và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng. Đồng thời, không có chứng cứ chứng minh có việc hoán đổi thửa đất 519 và 959 giữa nguyên đơn và bị đơn nên việc bà Á yêu cầu bị đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở chấp nhận.

Việc bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng nên không có cơ sở hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của bị đơn. Vì vậy, cấp sơ thẩm giải quyết vụ án nêu trên là đúng thẩm quyền.

Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

* Về án phí: Ông Phạm Đình Q và bà Lương Thị S phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2022/0000199 ngày 08/08/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh.

* Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND H.Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS H.Diên Khánh;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Đình Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 54/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger