Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

TỈNH THANH HÓA


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 54/2023/HS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Sỹ Thắng

Bà Nguyễn Thị Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2023/TLST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Công L, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công T và bà Lê Thị X; Vợ: chưa; tiền án: Ngày 19/11/2015 TAND huyện Q xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/02/2016). Ngày 21/11/2016 TAND huyện Q xử 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với 09 tháng tù của bản án hình sự số 64/2015/HSST ngày 19/11/2015 của TAND huyện Q thành 27 tháng tù giam (chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/3/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2018). Ngày 12/3/2019 TAND huyện Q xử 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 20/6/2019, chấp hành xong án phạt tù ngày 21/10/2022); tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 03/02/2023, tạm giam từ ngày 09/02/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại:

  1. Chị Lê Thị T - sinh năm 1994 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Thôn 1, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

  3. Chị Trương Thị N - sinh năm 1971 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: SN 148, P, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

  5. Nguyễn Bá L - sinh năm 1978 (vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Phòng 108, N3, Chung cư M, phường Đ, thành phố T.

  7. Anh Nguyễn Đình B - sinh năm 1981 (vắng mặt)
  8. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm nên Lê Công L (đang có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, tìm nhà dân nào sơ hở thì trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cuối tháng 11/2022, Lê Công L vào tỉnh B tìm kiếm việc làm, nhưng không tìm được việc nên ngày 14/12/2022 L đón xe khách quay về T, đến khoảng 03 giờ ngày 16/12/2022 L xuống xe tại ngã ba “Chẹt” thuộc thôn 2, xã T, huyện Q để đi bộ về nhà ở thôn C, xã Q, huyện Q. Khi đi đến thôn 1, xã Q, huyện Q, phát hiện nhà chị Lê Thị T đã tắt điện đi ngủ, trong sân dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36B8-587.48, cửa cổng khóa nhưng cửa ra vào trong nhà khép hờ, L quan sát xung quanh không có người qua lại nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L trèo qua cổng sắt mở cửa nhà đi vào trong phòng ngủ thấy vợ chồng chị T và hai con của chị T đang ngủ, trên đầu giường để hai chiếc điện thoại di động, L lấy hai điện thoại bỏ vào túi quần và tiếp tục lục quần áo treo trong phòng ngủ thì sờ thấy trong túi áo khoác của chị T tiền và 01 chìa khóa xe mô tô, L lấy bỏ vào túi quần, sau đó ra phòng khách tìm và thấy chìa khóa cổng để trên bàn uống nước; L lấy chìa khóa ra mở khóa cửa cổng, dùng chìa khóa xe mô tô lấy được trong túi áo chị T mở khóa điện xe mô tô Vision BKS 36B8-587.48. L lên xe nổ máy điều khiển xe mô tô đi theo QL1A, mục đích vào tỉnh B tìm nơi tiêu thụ tài sản và lẩn trốn, trên đường đi L dừng xe kiểm tra số tài sản trộm cắp nhà chị T gồm có 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPPO A57 màu xanh, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen và 1.000.000đồng tiền mặt, Lâm mở cốp xe kiểm tra bên trong có một đăng ký xe mô tô Vision BKS 36B8-587.48 mang tên Lê Thị T. Ngày 18/12/2022 L đến tỉnh B, tại đây L bán chiếc điện thoại di động OPPO A57 tại một cửa hàng điện thoại mà L không nhớ tên và địa chỉ được 1.300.000 đồng, sau đó vào TP. H bán chiếc xe mô tô cho một hiệu cầm đồ mà L không nhớ tên và địa được 17.000.000 đồng, còn chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A02 L để lại sử dụng, đến ngày 19/12/2023 L đón xe khách ra TP H chơi và ăn tiêu hết

Do biết không che giấu được hành vi của mình nên 19h ngày 03/2/2023, Lê Công L đã đến Công an huyện Q đầu thú, khai báo hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tài sản trộm cắp chưa kịp tiêu thụ gồm: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy note 8 đã qua sử dụng bị vỡ màn hình và mặt sau điện thoại; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu ghi xám đã qua sử dụng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng và 9.060.000 đồng.

Theo báo cáo của chị Lê Thị T là bị hại trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 16/12/2022 tại thôn 1, xã Q, huyện Q, tài sản bị mất trộm gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36B8-587.48; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen và 1.000.000đ tiền mặt, tổng tài sản bị mất trộm trị giá khoảng 41.500.000 đồng. Ngày 09/1/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8-587.48 trị giá 28.000.000 đồng; chiếc điện thoại OPPO A57 trị giá 3.000.000 đồng; chiếc điện thoại Samsung Galaxy A02 trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản nhà chị T bị trộm cắp ngày 16/12/2022 là 33.000.000 đồng (trong đó có 1.000.000đ tiền mặt).

Ngày 17/5/2023 Cơ quan CSĐT công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chị Lê Thị T là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen đã qua sử dụng. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36B8-587.48 và ĐTDĐ nhãn hiệu OPPPO A57 màu xanh Lâm đã bán, không nhớ địa chỉ và người mua, số tiền 1.000.000 đồng L đã tiêu hết, cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được tài sản. Chị Lê Thị T yêu cầu Lâm phải bồi thường giá trị tài sản trộm cắp và 1.000.000 đồng, tổng trị giá là 32.000.000 đồng.

Quá trình điều tra còn xác định từ ngày 22/12/2022 đến ngày 02/2/2023 Lê Công L còn liên tục thực hiện 03 vụ trộm cắp khác. Cụ thể:

* Vụ thứ nhất:

Khoảng 16h30'ngày 22/12/2022, Lê Công L đón xe khách từ thành phố H, tỉnh H ra thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, L xuống xe tại ngã ba đường tránh thành phố Thanh Hóa thuộc khu phố T, phường Q, thuê taxi đi đến đường Phù Lưu, phường Q, thành phố T thì xuống xe đi bộ dọc đường tìm nhà dân sơ hở để vào trộm cắp tài sản. Đến khoảng 21h30' cùng ngày, khi đi đến trước xưởng làm đá ốp lát của chị Trương Thị N ở số nhà 148, phường Q, thành phố T, L phát hiện xưởng làm đá ốp lát công nhân đã về nghỉ, phía B cổng vào xưởng là khu vực nhà ở của chị N, quan sát thấy tại sân nhà có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu cam BKS 36B5-169.83, cửa ra vào nhà đang mở, xung quanh không có người nên L đi qua phòng khách vào phòng ngủ của chị N tìm kiếm tài sản để trộm cắp, phát hiện thấy chìa khóa xe mô tô để trên nóc két sắt, 01 chiếc túi xách nữ màu trắng để trên ghế, L đi lại lấy chìa khóa xe mô tô, lục trong túi xách lấy 01 đôi hoa tại và 01 chiếc nhẫn màu vàng. Do không tìm thấy chìa khóa két sắt, L đi ra sân dùng chìa khóa vừa lấy trên két sắt cắm vào ổ khóa xe mô tô Honda Wave alpha BKS 36B5-169.83 thì mở được khóa điện, sau đó L điều khiển xe mô tô đi ra QL1A vào tỉnh H tìm nơi tiêu thụ và lẫn trốn. Trên đường đi L mở cốp xe kiểm tra bên trong có 01 đăng ký xe mô tô Wave alpha BKS 36B5-169.83 mang tên CTY THHH SX và KD Lh do chị N làm chủ. Đến sáng ngày 23/12/2023, Lâm đi xe đến địa phận thành phố H, L bán xe cho một người đàn ông lạ mặt, không biết tên và địa chỉ với giá 7.000.000 đồng. Sau khi bán xe, L ra QL1A đón xe khách vào tỉnh B, tại đây L vào một cửa hàng vàng bạc không xác định được tên và địa chỉ bán đôi bông tai và chiếc nhẫn tròn màu vàng được 3.000.000 đồng.

Theo báo cáo của chị Trương Thị N là bị hại trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 22/12/2022, tài sản bị mất trộm gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu vàng cam BKS 36B5-169.83; 01 đôi hoa tai bằng vàng tây (vàng 18K) trọng lượng 01 chỉ và 01 chiếc nhẫn hình tròn bằng vàng tây (vàng 18K) trọng lượng 01 chỉ, tổng giá trị tài sản bị trộm cắp khoảng 17.000.000 đồng. Ngày 16/3/2023, Hội đồng định giá tài sản thành phố Thanh Hóa kết luận tại thời điểm bị mất trộm, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu cam, BKS 36B5-169.83 trị giá 8.000.000 đồng. Đối với đôi hoa tai và chiếc nhẫn bằng vàng tây (vàng 18K), do bị hại không cung cấp được tài liệu chứng minh nguồn gốc, trọng lượng, đặc điểm của số vàng này nên Hội đồng định giá tài sản thành phố Thanh Hóa không có căn cứ để kết luận giá trị của đôi bông tai và chiếc nhẫn. Do đó giá trị tài sản bị trộm cắp ngày 22/12/2022 tại xưởng sản xuất đá ốp lát của chị Trương Thị N được xác định là 8.000.000₫.

Đối với chiếc xe xe mô tô Honda Wave alpha BKS 36B5-169.83, L đã bán cho người đàn ông lạ mặt ở thành phố H, Cơ quan CSĐT công an thành phố T đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được tài sản. Chị Trương Thị N yêu cầu Lâm phải bồi thường gía trị tài sản trộm cắp của chiếc xe mô tô là 8.000.000 đồng, giá trị của đôi bông tai, chiếc nhẫn vàng 18K là 7.000.000 đồng, tổng trị giá là 15.000.000 đồng.

* Vụ thứ 2:

Ngày 16/01/2023, L đón xe khách từ B quay về nhà ăn tết, thời gian này do sợ bị phát hiện và bị bắt nên L thường xuyên lẫn trốn ở trên núi Trường ở xã Q, huyện Q. Đến khoảng 03 giờ ngày 26/01/2023 (ngày 05 tết âm lịch), L đi bộ xuống khu dân cư ở thôn C, xã Q, huyện Q tìm nhà nào sơ hở để vào trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua nhà bà Trịnh Thi L sinh năm 1950 ở cùng thôn, L thấy cửa cổng không khóa, cửa chính đang mở, trong nhà đã tắt điện đi ngủ, xung quanh không có người; L trèo tường phía trước nhà bà L (tường phía Bắc) vào trong sân, sau đó vào nhà trên nhưng không tìm thấy tài sản gì nên L đi xuống nhà dưới thì thấy anh Nguyễn Bá L (con trai bà Lai về quê ăn tết) đang ngủ trên giường, L đi lại đầu giường anh L thấy 04 điện thoại di động các loại nên lấy bỏ vào túi quần, L lục trong quần dài của anh L đang treo trên móc quần áo thấy có tiền nên lấy toàn bộ số tiền trong túi quần; Quay ra ngoài L thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, BKS 36B1:891.30 của anh Lg dựng trong phòng ngủ đang cắm chìa khóa tại ổ khóa nên L dắt xe mô tô ra ngoài đường, nổ máy điều khiển xe ra nghĩa trang thôn C, xã Q, huyện Q (khu vực phía Đông của nghĩa trang và cách nhà bà L khoảng 200m về phía Bắc) để kiểm tra tài sản. Tại đây L kiểm tra trong số tài sản trộm cắp được gồm: 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám, 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, 01 điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt và 9.060.000đ (chín triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền mặt; L mở cốp xe mô tô kiểm tra nhưng không thấy đăng ký xe nên khóa cổ, để xe mô tô tại khoảng trống giữa 02 lăng, cách ruộng thuốc lào của anh Phạm Văn T sinh năm 1985 ở thôn C, xã Q, huyện Q khoảng 05m về phía T và dùng vỏ bao xi măng tại nghĩa trang tủ lên xe để tránh mọi người phát hiện nhằm mục đích ngày hôm sau quay lại lấy đem đi tiêu thụ. Sau đó L cầm theo số tài sản vừa trộm cắp đi bộ lên núi T lẩn trốn, đến đêm ngày 28/01/2023 L đi bộ một mình ra QL1A đón xe khách vào tỉnh H tìm nơi tiêu thụ tài sản và lẫn trốn. Trên đường vào tỉnh H, xe ô tô khách dừng nghỉ tại một quán cơm dọc QL1A địa phận tỉnh N (L không nhớ tên và địa chỉ), tại đây L bán chiếc điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt cho một người L không biết tên và địa chỉ với giá 300.000 đồng, sau đó tiếp tục đi xe vào tỉnh H.

Theo báo cáo của gia đình anh Nguyễn Bá L, ngày 25/01/2023 gia đình anh bị kẻ gian lấy cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, BKS 36B1:891.30; 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám, 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, 01 điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt và 9.060.000đ tiền mặt. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp và tiền mặt khoảng 40.560.000 đồng. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Quảng Xương ngày 06/02/2023: 01 xe mô tô Honda Airblade màu đỏ đen, BKS 36B1-891.30 trị giá 10.000.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 11 Promax trị giá 9.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 trị giá 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus trị giá 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro trị giá 2.000.000 đồng và 9.060.000đ tiền mặt. Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp ngày 26/01/2023 của gia đình anh Nguyễn Bá L là 35.060.000 đồng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 36B1- 891.30 của anh Nguyễn Bá L mà Lê Công L trộm cắp sau đó dấu tại nghĩa trang thôn C, xã Q, huyện Q. Hồi 16h ngày 26/01/2023, anh Phạm Văn T Sn1985 ở thôn C, xã Q, huyện Q trong lúc làm đồng phát hiện chiếc xe trên đã giao nộp cho Cơ quan Công an để phục vụ công tác điều tra. Ngày 17/02/2023 Cơ quan CSĐT công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh Nguyễn Bá L là xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 36B1- 891.30, 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám, 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen và 9.060.000đ tiền mặt, anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Do L đã bán 01 điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt cho một người không quen biết trong quán cơm ở Nghệ An, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được tài sản. Anh Nguyễn Bá L không yêu cầu Lâm phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản chiếc điện thoại OPPO 11pro, anh L không có yêu cầu đề nghị gì khác.

* Vụ thứ 3:

Khoảng 03 giờ ngày 02/02/2023 trong lúc đang lẩn trốn tại địa bàn thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Lâm phát hiện nhà anh Nguyễn Đình B cửa ban công tầng hai đang mở. Sau khi quan sát xung quanh không có người qua lại, L trèo qua tường vào vườn phía Tây giáp nhà anh B, sau đó trèo cây lên ban công đi vào trong phòng ngủ thì phát hiện anh B đang ngủ trên giường, trên đầu giường có ba chiếc điện thoại di động, L lấy bỏ túi quần và tiếp tục tìm xung quanh thì thấy trên nóc tủ quần áo có 01 chiếc laptop, L lấy laptop cầm ở tay, sau đó đi theo cầu thang xuống tầng 01, L vào phòng tắm thấy túi da của anh B đang treo trên móc quần áo nên mở ra kiểm tra có tiền nên L lấy toàn bộ số tiền bên trong. Sau khi trộm cắp được tài sản L đi ra ngoài, trên đường đi L kiểm tra số tài sản trộm cắp gồm có: 01 ĐTDĐ Iphone 8 Plus màu trắng, 01 ĐTDĐ Iphone 6S màu trắng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ, 01 chiếc laptop hiệu Dell đã qua sử dụng và 2.500.000 đồng tiền mặt. Đến sáng ngày 02/02/2023 L đi bộ ra QL1A đón xe khách quay về Thanh Hóa. Trên đường về thì xe khách dừng ăn cơm tại tỉnh Nghệ An, L bán chiếc điện thoại OPPO F7 cho một cửa hàng điện thoại L không nhớ tên và địa chỉ bên cạnh quán cơm được 300.000đồng, L kiểm tra chiếc Laptop trộm cắp nhưng không lên nguồn nên L ném chiếc Laptop vào một thùng rác của quán cơm, đến chiều cùng ngày L về đến xã Q, huyện Q và tiếp tục lẩn trốn tại núi Trường, số tài sản còn lại gồm: 01 ĐTDĐ Iphone 8 Plus màu trắng, 01 ĐTDĐ Iphone 6S màu trắng trộm cắp nhà anh Nguyễn Đình B và 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám, 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, 9.060.000 đồng tiền mặt trộm cắp của anh Nguyễn Bá L, L cất giấu tại khu vực núi T.

Theo báo cáo của anh Nguyễn Đình B là bị hại trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 02/02/2023 tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, tài sản bị mất trộm gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ; 01 Laptop nhãn hiệu Dell màu bạc đã bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng và 2.500.000 đồng tiền mặt, tổng giá trị tài sản bị mất trộm là khoảng 7.800.000 đồng. Ngày 13/4/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố hụng hình sự huyện Quảng Xương định giá: 01 điện thoại Iphone 8 Plus trị giá 3.500.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 6S trị giá 1.200.000 đồng; chiếc điện thoại OPPO F7 trị giá 600.000 đồng; 01 Laptop Dell bị hư hỏng hoàn toàn trị giá 0 đồng và số tiền mặt 2.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị mất trộm ngày 02/02/2023 tại nhà anh Nguyễn Đình B là 7.800.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 8 plus màu trắng, chiếc điện thoại Iphone 6S màu trắng, kết quả xác minh xác định là tài sản của anh Nguyễn Đình B bị mất trộm ngày 02/02/2023. Ngày 17/5/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Đình B, anh B đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì, không yêu cầu L phải khắc phục bồi thường thiệt hại. Đối với chiếc điện di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ và 01 chiếc Laptop hiệu Dell đã bị hư hỏng, số tiền 2.500.000 đồng mà Lê Công L trộm cắp của anh B ngày 02/02/2023; L khai bán chiếc điện thoại tại một cửa hàng điện thoại L không nhớ tên và địa chỉ ở tỉnh Nghệ An được 300.000 đồng, do chiếc Laptop bị hỏng không sử dụng được nên L đã ném vào thùng rác tại một quán cơm L không nhớ tên và địa chỉ ở Nghệ An, cơ quan điều tra không thu hồi lại được số tài sản này. Anh Nguyễn Đình B không yêu cầu Lê Công L phải khắc phục lại giá trị của chiếc điện thoại OPPO F7, chiếc laptop và số tiền 2.500.000 đồng.

Đối với những người đã mua chiếc điện thoại di động OPPO A57; mô tô Vision BKS 36B8-587.48; xe Wave alpha BKS 36B5-169.83; đôi bông tai và chiếc nhẫn tròn màu vàng; điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt; chiếc điện thoại OPPO F7 của L, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKS-QX ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá truy tố Lê Công L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hoá luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 6 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A02 màu đen do Lâm trộm cắp của chị T, công nhận chị T đã nhận lại đầy đủ. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36B8-587.48 và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPPO A57 màu xanh, hội đồng định giá là 31.000.000đ và 1.000.000 đồng tiền mặt Lâm đã bán và chi tiêu hết, không thu hồi được, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 32.000.000đ cho chị T.
  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu cam, BKS 36B5-169.83 của chị Nguyệt bị L trộm cắp, hiện đã bán không thu hồi được, hội đồng định giá là 8.000.000 đồng, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền này cho chị N. Đối với đôi hoa tai và chiếc nhẫn bằng vàng tây (vàng 18K), do bị hại chị N khai bị mất, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh nguồn gốc, trọng lượng, đặc điểm của số vàng này nên không có căn cứ để kết luận giá trị của đôi bông tai và chiếc nhẫn, vì vậy không có cơ sở để xem xét yêu cầu xét xử của chị N.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 36B1- 891.30; 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám; 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen và 9.060.000đ tiền mặt do bị cáo L trộm cắp của anh L, đã nhận lại tài sản đầy đủ. Đối với 01 điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt L trộm cắp của anh L, L đã bán không thu hồi được, nay anh L không yêu cầu Lâm phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản chiếc điện thoại OPPO 11pro, chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yên cầu bị cáo phải bồi thường.
  • - Đối với chiếc điện thoại Iphone 8 plus màu trắng, chiếc điện thoại Iphone 6S màu trắng L trộm cắp của anh Nguyễn Đình B, nên công nhận anh B đã nhận lại tài sản đầy đủ. Đối với chiếc điện di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ và 01 chiếc laptop hiệu Dell đã bị hư hỏng, số tiền 2.500.000 đồng mà L trộm cắp của anh B. Hiện nay tài sản không thu được và tiền L đã tiêu hết, nay anh B không yêu cầu Lâm bồi thường tiền và giá trị tài sản này, nên chấp nhận sự tự nguyện của anh Bình không yên cầu bị cáo phải bồi thường.
  • - Bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
  • - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời sau cùng đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà hôm nay: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai bị hại, người liên quan, cùng các chứng cứ tài liệu khác thu thập được phản ánh trong hồ sơ. Đủ cơ sở chứng minh: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong thời gian từ ngày 16/12/2022 đến 02/2/2023, tại thôn 1, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; tại đường P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Lê Công L đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Lê Thị T trị giá 33.000.000 đồng, của chị Trương Thị N trị giá 8.000.000 đồng, của anh Nguyễn Bá L trị giá 35.060.000 đồng, của anh Nguyễn Đình B trị giá 7.800.000 đồng. Tổng Lê Công L đã có 04 lần lén lút trộm cắp chiếm đoạt tài sản của 04 bị hại tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 83.860.000 đồng. Nên tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với qui định của pháp luật.

[3]. Do bị cáo Lê Công L đang có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị chiếm đoạt là 83.860.000 đồng, nên phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” và thuộc trường hợp “chiếm đoạt tài sản giá trị từ 50.000.000₫ đến dưới 200.000.000” và đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo được qui định tại điểm c, g khoản 2 điều 173 BLHS. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của Lê Công Lâm phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đ- ợc qui định tại c, g khoản 2 điều 173 BLHS.

[4]. Tính chất vụ án: Đây là vụ trộm cắp tài sản đ-ợc thực hiện ở nhiều địa bàn khác nhau trong tỉnh Thanh Hóa và ngoài tỉnh và đều thực hiện vào ban đêm, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, cũng như sự mất cảnh giác của người trông coi quản lý tài sản, đã tiếp cận, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an nơi khu vực, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do vậy phải đ- ợc xử lý nghiêm minh.

[5]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhận thức, nhưng không chịu làm ăn lao động chính đáng, sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, cũng chỉ vì muốn có tiền chi tiêu cá nhân đã bất chấp qui định của pháp luật lao vào con đường phạm tội trộm cắp tài sản, bản thân đã 03 lần bị xét xử về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội, điều này cho thấy bị cáo không chịu cải sửa, ngang nhiên xem thường pháp luật. Trong khoảng thời gian từ ngày 16/12/2022 đến 02/2/2023 bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Với tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, nghĩ nên cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo một phần vì ra đầu thú và thành khẩn khai báo được qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

[6]. Bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nghĩ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

  • [7.1]. Theo báo cáo của bị hại chị Lê Thị T, tài sản chị bị mất gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A02 màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36B8-587.48; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPPO A57 màu xanh và 1.000.000 đồng tiền mặt. Nay chị T đã nhận lại được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A02 màu đen, nên công nhận chị T đã nhận lại chiếc điện thoại trên. Đối với tài sản còn lại hiện nay chị chưa nhận lại được và yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xét thấy: 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36B8-587.48 và 01ĐTDĐ nhãn hiệu OPPPO A57 màu xanh và 1.000.000 đồng tiền mặt Lâm đã bán và chi tiêu hết, không thu hồi được, đã được Hội đồng định giá tổng là 31.000.000đ. Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS buộc bị cáo L phải trả lại cho chị T số tiền 1.000.000đ và bồi thường cho chị T 31.000.000đ giá trị tài sản bị mất là phù hợp. Tổng là 32.000.000đ.
  • [7.2]. Theo báo cáo của bị hại chị Trương Thị N tài sản bị mất gồm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu cam, BKS 36B5-169.83; đôi hoa tai và 01 chiếc nhẫn bằng vàng tây (vàng 18K), hiện nay các tài sản này chị chưa nhận lại được, chị yêu cầu bị cáo L phải bồi thường. Xét thấy: Đối với 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu cam, BKS 36B5-169.83 L trộm cắp, hiện đã bán không thu hồi được, hội đồng định giá là 8.000.000 đồng, căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS buộc bị cáo phải bồi thường số tiền này cho chị N. Đối với đôi hoa tai và 01 chiếc nhẫn bằng vàng tây (vàng 18K), chị N khai bị mất, nhưng chị không cung cấp được tài liệu chứng minh nguồn gốc, trọng lượng, đặc điểm của số vàng này nên không có căn cứ để kết luận giá trị của đôi bông tai và chiếc nhẫn, vì vậy không có cơ sở để xem xét yêu cầu này của chị N.
  • [7.3]. Theo báo cáo của bị hại anh Nguyễn Bá L, tài sản của anh bị mất gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 36B1- 891.30; 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám; 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen; 01 điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt và 9.060.000đ tiền mặt. Nay anh L đã nhận lại số tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 36B1- 891.30; 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám; 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen và 9.060.000đ tiền mặt, nên công nhận anh L đã nhận lại đầy đủ số tài sản trên. Đối với 01 điện thoại OPPO 11pro màu tím nhạt Lâm trộm cắp của anh L, L đã bán không thu hồi được, nay anh L không yêu cầu Lâm phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản chiếc điện thoại OPPO 11pro, chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yên cầu bị cáo phải bồi thường.
  • [7.4]. Theo báo cáo của bị hại anh Nguyễn Đình B tài sản bị mất gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 8 plus màu trắng; chiếc điện thoại Iphone 6S màu trắng; chiếc điện di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ; 01 chiếc laptop hiệu Dell đã bị hư hỏng và 2.500.000 đồng tiền mặt. Nay anh B đã nhận lại 01 chiếc điện thoại Iphone 8 plus màu trắng, 01 chiếc điện thoại Iphone 6S màu trắng, nên công nhận anh B đã nhận lại đầy đủ tài sản này. Đối với chiếc điện di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ và 01 chiếc laptop hiệu Dell đã bị hư hỏng, số tiền 2.500.000 đồng mà Lâm trộm cắp của anh B. Hiện nay tài sản không thu được và tiền L đã tiêu hết, nay anh B không yêu cầu L phải bồi thường tiền và giá trị tài sản này, nghĩ nên chấp nhận sự tự nguyện của anh B không yên cầu bị cáo phải bồi thường.
  • [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000đ án phí dân sự có giá ngạch đối với tài sản phải bồi thường.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điều 6; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  • - Tuyên bố: Lê Công L phạm tội “Trộm cắp tài sản"
  • - Xử phạt: Lê Công L 05 (năm) tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/02/2023.
  • + Về trách nhiệm dân sự:
    • - Công nhận chị Lê Thị T đã nhận lại được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A02 màu đen. Buộc bị cáo L trả cho chị Lê Thị T số tiền 1.000.000₫ và phải bồi thường cho chị Lê Thị T giá trị tài sản bị mất là 31.000.000đ. Tổng là 32.000.000₫.
    • - Buộc bị cáo Lâm phải bồi thường số tiền 8.000.000đ cho chị Trương Thị N trị giá chiếc xe máy bị mất.
    • - Công nhận anh Nguyễn Bá L đã nhận lại số tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS 36B1- 891.30; 01 điện thoại IPhone 11 Promax màu xám; 01 điện thoại Samsung Note 8 màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen và 9.060.000đ tiền mặt. Chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu bị cáo Lâm phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản chiếc điện thoại OPPO 11pro.
    • - Công nhận anh Nguyễn Đình B đã nhận lại 01 chiếc điện thoại Iphone 8 plus màu trắng, 01chiếc điện thoại Iphone 6S màu trắng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Đình B không yêu cầu bị cáo Lâm phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản đối 01 chiếc điện di động nhãn hiệu OPPO F7 màu đen; 01 chiếc laptop hiệu Dell đã bị hư hỏng và không yên cầu bị cáo Lâm phải trả lại số tiền mặt 2.500.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bị cáo phải trả và bồi thường, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi xuất qui định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000₫ án phí dân sự có giá ngạch.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a 9 của Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND huyện Quảng Xương
  • - Công an huyện Quảng Xương
  • - THA DS huyện Quảng Xương
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Bùi Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 54/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Công L, sinh năm 1997
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger