|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 54/2022/DS-PT
Ngày 28-10-2022
V/v “ Tranh chấp đòi lại nhà, đất
cho mượn, cho ở nhờ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn và bà Nguyễn Thị Thu Từ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2021/TLPT-DS ngày 13 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho ở nhờ” do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2021/DS-ST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 81/2022/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1972. Cùng địa chỉ: Xóm A N (xóm A cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (bà T1 có mặt, ông T vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thanh H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố V, Nghệ An (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1974 và bà Ngô Thị X, sinh năm 1980. Nơi đăng ký thường trú: Xóm B (xóm F cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Xóm N (xóm A cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (ông H1 vắng mặt, bà X có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị X: Ông Lê Hồng S, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số B, chung cư T, phường V, thành phố V, Nghệ An. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B3). Địa chỉ: Số C H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T2 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T3 – chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ Chi nhánh P. Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hà Huy H2 - chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ Chi nhánh P (Theo văn bản ủy quyền 660a ngày 18/10/2021), vắng mặt.
Người làm chứng:
- + Ông Nguyễn Hồng H3, sinh năm 1980. Địa chỉ: Xóm N, xã D, huyện D, Nghệ An. Vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1997. Địa chỉ: Xóm N, xã D, huyện D, Nghệ An. Vắng mặt.
- + Bà Ngô Thị Vân A, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm V, xã D, huyện D, Nghệ An. Có mặt.
- + Bà Phạm Thị Thu H4. Địa chỉ nơi làm việc: Văn phòng công chứng số II tỉnh N, khối C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Ngô Thị X – bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2019, các bản tự khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1, người đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/8/2017, vợ chồng ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X, trú tại xóm F (nay là xóm B), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 05, diện tích 163,7m², địa chỉ xóm A (nay là xóm N), xã D. huyện D, tỉnh Nghệ An. Ngày 8/8/2017, Ủy ban nhân dân huyện D đã thực hiện xong việc đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T, bà T1 đã cho vợ chồng ông H1, bà Xuân m lại khối tài sản nói trên trong thời hạn 07 năm. Hiện nay bà X đang sống trên thửa đất này. Quá trình gia đình ông H1, bà X sử dụng ngôi nhà và các tài sản gắn liền với đất, không những không giữ gìn vệ sinh mà còn làm vỡ 01 cánh cửa kính cường lực của cửa chính. Bên cạnh đó, ông H1, bà X còn cho bà Hoàng Thị B1 vào sinh sống trong nhà mà không thông báo cho ông T, bà T1 được biết. Ngoài ra quá trình ở tại ngôi nhà nêu trên, bà X còn bị cơ quan pháp luật khởi tố vụ án hình sự, việc bà X sinh sống tại ngôi nhà làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, uy tín của chủ sở hữu.
Ngày 11/4/2019, ông Trần Văn T muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng cho mượn nhà và đất nên đã có đơn đề nghị gia đình ông H1, bà X trả lại tài sản nhà, đất cho mượn, cho ở nhờ. Tuy nhiên, ông H1, bà X không đồng ý trả nhà, đất được cho mượn ở nhờ.
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau: Tuyên chấm dứt hợp đồng mượn tài sản giữa ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 và vợ chồng ông Nguyễn Xuân H5, bà Ngô Thị X đối với thửa đất số 142 tờ bản đồ 05 tại xóm N (xóm A cũ), xã D, huyện D, Nghệ An; buộc gia đình ông H5, bà X trả lại nhà và các tài sản gắn liền với đất cho ông T, bà T1 đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ 05 tại xóm N (xóm A cũ), xã D, huyện D, Nghệ An; buộc bà Hoàng Thị B1 không được sinh sống tại ngôi nhà trên thửa đất nói trên; buộc bị đơn phải bồi thường cửa kính chịu lực đã vỡ trị giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông T, bà T1 với ông H5, bà X, bà T1 cho biết: Việc thực hiện hợp đồng này đã được thanh toán bằng tiền mặt cho vợ chồng ông H5, bà X và có biên bản giao nhận tiền cụ thể. Nay bà X cho rằng ông T, bà T1 còn nợ ông H5, bà X 1.500.000.000 đồng là không đúng. Nếu nói còn nợ, yêu cầu bị đơn xuất trình chứng cứ để chứng minh. Việc ông T, bà T1 cho ông H5, bà X mượn nhà là việc tình cảm, không phải là vấn đề tiền bạc.
Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bị đơn phải bồi thường cửa kính chịu lực đã vỡ trị giá 15.000.000đ. Các nội dung khởi kiện còn lại nguyên đơn vẫn giữ nguyên.
Bị đơn bà Ngô Thị X và người đại diện theo ủy quyền của bà X trình bày:
Năm 2016, vợ chồng ông H5, bà X có mua thửa đất số 142, tờ bản đồ 05 tại xóm N (xóm A cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi mua, vợ chồng ông H5, bà X xây dựng nhà và làm cửa hàng kinh doanh ở đó. Năm 2017, bà X có vay tiền của vợ chồng ông T, bà T1, lãi suất do hai bên thỏa thuận. Số tiền này bà X vay cho bạn của mình làm ăn, việc này bà T1 cũng biết nhưng do tin tưởng bà X và cũng muốn hưởng lãi suất cao nên bà T1 vẫn đồng ý cho vay. Đến khi bạn của bà X làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ thì vợ chồng bà T1 đã nhiều lần uy hiếp vợ chồng ông H5, bà X. Cuối cùng vợ chồng bị đơn đồng ý chuyển nhượng thửa đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên bao gồm cả căn nhà trên đất cho gia đình bà T1 với 02 điều kiện: Thứ nhất là gia đình bà T1 phải trả số tiền bà X đang vay ngân hàng là 2.500.000.000đ (hai tỷ năm trăm triệu đồng); và phải đưa thêm cho bà X 2.800.000.000đ (hai tỷ tám trăm triệu đồng). Như vậy giá trị thửa đất là 5.300.000.000đ (năm tỷ ba trăm triệu đồng). Bà X còn nợ bà T1 1.300.000.000đ (một tỷ ba trăm triệu đồng) nên sau khi trừ nợ bà T1 còn phải đưa cho bà X số tiền mặt là 1.500.000.000đ (một tỷ năm trăm triệu đồng). Thứ hai là gia đình ông H5, bà X được ở và kinh doanh trên thửa đất nói trên là 07 năm. Khoản tiền nợ 1.500.000.000đ (một tỷ năm trăm triệu đồng) hiện nay bà T1 vẫn chưa thanh toán cho vợ chồng ông H5, bà X. Nay vợ chồng bà T1 làm đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng cho mượn nhà, đền bù thiệt hại đối với cửa kính cường lực bị vỡ và yêu cầu chị B1 ra khỏi nhà thì bà X, ông H5 hoàn toàn không đồng ý vì các lý do sau: Gia đình bà X hiện đều đang sinh sống và kinh doanh và có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 27.8.014430, ngày 25/5/2016; ngành nghề kinh doanh: Sách, báo, văn phòng phẩm, đồ dùng dạy học, đồ bơi, quà lưu niệm, photocoppy, in ấn tại ngôi nhà trên thửa đất số 142, tờ bản đồ 05 tại xóm N (xóm A cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; điều kiện kinh tế khó khăn và không còn nơi nào khác để ở. Đồng thời hai bên cũng đã thỏa thuận cho gia đình bà X được sinh sống trên đó 07 năm, nên bà không đồng ý trả lại nhà và đất cho vợ chồng ông T, bà T1.
- Đối với cánh cửa cường lực bị vỡ, bà không đồng ý bồi thường vì nhà cửa là do gia đình bà xây dựng nên. Gia đình bà T1 cũng không có quyền yêu cầu chị B1 ra khỏi nhà vì chị B1 chỉ là người giúp việc trong nhà không có liên quan gì và nhà đó vẫn thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà X, ông H5. Bà X, ông H5 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà T1.
- Việc bà chưa dọn ra khỏi nhà là do vợ chồng bà T1 còn nợ vợ chồng bà 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
- Ngày 11/6/2021 bà X có đơn yêu cầu phản tố về việc yêu cầu ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 trả khoản tiền nợ 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
- Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Văn H1 nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, anh H1 đã gửi đến Tòa án Đơn xin yêu cầu có nội dung: đề nghị Toà án huyện D điều tra xem xét lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông và ông T, bà T1, bởi lẽ hợp đồng được ký kết tại nhà ông T, bà T1 trong sự ép buộc và có sự can thiệp của nhiều người. Hợp đồng ký đã xong nhưng ông T, bà T4 không chịu thực hiện cam kết mua bán trả đủ số tiền mà bà T1, ông T còn thiếu đó là: 3.037.000.000 đồng (ba tỷ không trăm ba mươi bảy triệu). Đồng thời gửi giấy xác nhận sự việc trình bày nội dung: Vào ngày 01/8/2017 tôi được bà T1, ông T đến giải quyết về việc mua bán đất. Tôi cùng vợ tôi là Ngô Thị X và em gái tôi Ngô Thị Vân A đi cùng đến nhà bà T1, khi chúng tôi đến tại nhà ba T thì đã có rất đông người, ở đó toàn là người tôi không biết trong số đó có anh H3 ở xóm A, xã D và bà H4 người Diễn Liên làm công chứng viên phòng công chứng số II huyện D, những người còn lại là tôi không biết. Sự việc đã xảy ra tranh cãi căng thẳng bởi vì đã không đồng tình như quan điểm trước đó ngày 21/7/2017, vợ chồng ông H1, bà X đã cùng vợ chồng bà T1 cam kết bán cho bà T1, ông T thửa đất này giá 5.537.000.000 đồng, cả hai cam kết mua là bà T1, ông T sẽ trả đủ số tiền mua đất bằng tiền mặt thì vợ ông H1, bà X sẽ làm làm giấy chuyển nhượng, nhưng bà T1 mới chuyển vào tài khoản Ngân hàng cho ông H1, bà X 2.500.000.000 đồng để lấy bìa đất ra, số tiền còn lại vợ chồng ông T, bà T1 muốn vợ chồng tôi ký vào các thủ tục chuyển nhượng mà bà T1 đã chuẩn bị trước, rồi lúc có bìa tên bà T1, ông T, sau đó thế chấp vay mới có tiền trả cho vợ chồng tôi. Buổi làm việc diễn ra căng thẳng, ngoài bà T1, ông T còn có rất nhiều người trong nhà bà T1 tham gia vào buổi làm việc, trước sức ép của vợ chồng bà T1, ông T cùng tất cả những người lạ đó vợ chồng tôi (H1, X) ký tất cả giấy tờ và bà H4 đưa vào lăn tay điểm chỉ mà không được đọc thông qua nội dung các giấy tờ đó và ông H1 xin cam đoan việc trình bày là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Ngân hàng B3) trình bày:
Ông Trần Văn T, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1972 là chủ sở hữu nhà đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m²; địa chỉ thửa đất tại xóm A (nay là xóm N), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, nên ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 vay tiền tại Ngân hàng thì việc thế chấp tài sản trên để đảm bảo vốn vay đã được thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng ông Trần Văn T và Bà Ngô Thị T1 với Ngân hàng là đúng quy định của pháp luật, nên vẫn được tiếp tục thực hiện, nếu có tranh chấp xảy ra liên quan đến nhà và đất nêu trên thì Ngân hàng vẫn có đầy đủ các quyền của bên nhận thế chấp và quyền ưu tiên trong việc xử lý nợ theo quy định của pháp luật. Do đó, việc ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 kiện đòi nhà và đất đối với ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X thì Ngân hàng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, không làm ảnh đến quyền lợi của Ngân hàng. Hiện khoản vay chưa đến hạn nên chưa có yêu cầu gì.
Lời khai người làm chứng:
Ông Nguyễn Hồng H3 trình bày: Vào ngày 01/8/2021, bà Ngô Thị T1 có nhờ ông đến làm chứng việc nhận chuyển nhượng nhà và đất với vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X. Anh H1 cùng em là Nguyễn Văn B đến và chứng kiến sự việc. Bà T1 yêu cầu vợ chồng bà X chuyển nhượng lô đất ở trên đường Quốc lộ 7B đoạn chợ D do trước đó bà X có nợ tiền của bà T1. Số tiền chuyển nhượng lúc đó ông nghe hai bên thỏa thuận là 5.300.000.000 (Năm tỷ ba trăm triệu đồng). Ông H3 nghe bà T1 nói trước đó đã đưa cho cho vợ chồng ông H1, bà X số tiền 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng). Bà X lúc ấy yêu cầu bà T1 trả đủ số tiền còn lại mới ký giấy chuyển nhượng và công chứng tại nhà bà T1 nhưng bà T1 lại bảo công chứng xong, sang tên bìa đất cho bà T1 rồi bà T1 lấy bìa đi vay Ngân hàng rồi sẽ thanh toán lại cho vợ chồng bà X. Hai bên tranh luận rất lâu và cuối cùng ông H1, bà X đã đồng ý ký giấy sang nhượng và công chứng tại nhà bà T1. Sau khi vợ chồng bà X đồng ý thì chị H4 công chứng đã gọi tất cả vào bàn ký tất cả giấy tờ tại phòng khách nhà bà T1. Sau đó bà T1 có thanh toán số tiền còn lại cho vợ chồng ông H1, bà X hay không thì ông H3 không được biết.
Ông Nguyễn Văn B trình bày: Vào ngày 01/8/2017, ông có đi cùng ông Nguyễn Hồng H3 đến nhà ông T, bà T1 để chứng kiến về việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông T, bà T1 và vợ chồng ông H1, bà X. Lúc anh (B) và anh H3 đến nhà bà T1 thì thấy có rất nhiều người tại nhà bà T1, một lúc sau thấy vợ chồng ông H1, bà X cùng em gái là bà Vân A đến. Hai bên xảy ra tranh cãi về việc mua bán đất. Bà T1 yêu cầu bà X, ông H1 ký vào hợp đồng chuyển nhượng trước, sau khi bìa đất mang tên bà T1 thì sẽ đi vay ngân hàng để trả số tiền còn lại cho vợ chồng bà X. Hai bên lời qua tiếng lại kéo dài khá lâu, sau đó ông H1, bà X đồng ý ký vào hợp đồng chuyển nhượng do bà H4 làm ở Văn phòng C1. Tại buổi làm việc ở nhà bà T1 hôm đó, anh B2 chỉ thấy các bên ký giấy và lăn tay điểm chỉ chứ không có giao dịch tiền bạc nào.
Bà Ngô Thị Vân A trình bày: Vào ngày 01/8/2017, bà cùng với vợ chồng chị gái là bà X, ông H1 đến tại nhà ông T, bà T1 để trao đổi về việc mua bán chuyển nhượng nhà đất của ông H1, bà X. Tại buổi làm việc hôm đó có vợ chồng bà T1 và rất nhiều người có mặt trước tại đó, trong đó có anh H3 và chị H4 làm ở phòng C, Hai bên lời qua tiếng lại một lúc thì thấy chị X khóc và đồng ý ký, lăn tay điểm chỉ vào giấy tờ chuyển nhượng nhà và đất do chị H4 phòng công chứng soạn sẵn. Ông T, bà T1 đồng ý mua với giá hơn năm tỷ đồng. Trước đó vào ngày 21/7/2017, bà T1 đã đưa trước 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) và cùng với bà X đến ngân hàng S1 trả tiền để chuộc bìa về. Còn lại 2.800.000.000₫ (Hai tỷ tám trăm triệu đồng ) thì bà T1 nói sau khi sang tên bìa cho bà T1 thì bà T1 sẽ cắm bìa vay ngân hàng rồi đưa lại cho bà X số tiền còn thiếu sau. Sau đó bà T1 và bà X có viết giấy cam kết mượn lại nhà ở trong vòng 07 (bảy) năm và cam kết một số vấn đề gì đó bằng miệng mà bà không nhớ rõ lắm, sau đó mọi người đều ra về.
Bà Phạm Thị Thu H4 trình bày: Tại thời điểm năm 2017, bà H4 đang là chuyên viên, công việc của bà là phụ giúp công chứng viên soạn thảo văn bản, hướng dẫn thủ tục hồ sơ công chứng. Việc công chứng do công chứng viên tự thực hiện, nếu có trường hợp yêu cầu lấy chữ ký mà có lý do chính đáng thì công chứng viên tự thực hiện, chuyên viên không được thực hiện. Chiều ngày 01/8/2017, bà H4 được công chứng viên Nguyên Thị U giao soạn thảo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X với ông Trần Văn T, bà Ngô Thị X. Công chứng viên Nguyễn Thị U1 thực hiện cho ký kết và công chứng hợp đồng chuyển nhượng này tại trụ sở của phòng C. Mặt khác cũng vào buổi chiều ngày 01/8/2017, vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X cùng lúc thực hiện Hợp đồng ủy quyền do công chứng viên Nguyễn Thị Xuân T5 thực hiện tại trụ sở phòng C. Bà H4 cam kết không có mặt tại nhà bà T1, ông T để lập bất kỳ một văn bản chuyển nhượng nào cả.
Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2021/DSST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã quyết định: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về cánh cửa cường lực bị vỡ trị giá 15.000.000 đồng; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1: Chấm dứt hợp đồng cho mượn nhà, đất ở nhờ giữa ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 và ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X; Buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X giao trả lại cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² tại GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 897952 do UBND huyện D cấp ngày 03/9/2015 tại nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 08/8/2017 “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T CMND số [...] và vợ là bà Ngô Thị T1, CMND số 1819255937, địa chỉ xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ số 17004531; Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X di dời các vật dụng, tài sản gồm: Hệ thống tủ nhôm kính, tủ sắt, hệ thống kệ rời đựng đồ, hàng hóa liên quan văn phòng phẩm; 03 chiếc điều hòa, 06 quạt treo tường để giao trả toàn bộ nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² đã nêu trên cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1.
Dành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X về yêu cầu phản tố chưa giải quyết trong vụ án khi ông H1, bà X có yêu cầu.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 thỏa thuận nộp 2.100.000 đồng (Ông T, bà T1 đã nộp đủ). Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X phải nộp 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) tiền để hoàn trả cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1.
Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm).
Ngày 06/1/2022, bà Ngô Thị X kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, lý do: Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử thiếu khách quan, không đánh giá đúng bản chất của vụ án làm thiệt hại tới tài sản cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà X; bà X không đồng ý giao lại nhà, đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5 tại xóm N, xã D, huyện D cho vợ chồng ông T, bà T1 do ông T, bà T1 chưa thanh toán hết số tiền chuyển nhượng mà hai bên đã thống nhất tại Giấy cam kết lập ngày 21/7/2017; việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không hợp pháp, hợp đồng chuyển nhượng không được ký tại Văn phòng công chứng, vợ chồng bà bị ép buộc ký; chuyển nhượng nhà là để xiết nợ; giá chuyển nhượng thực tế cao hơn giá ghi trong hợp đồng; đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 1/8/2017 lập giữa vợ chồng bà X, ông H1 và bà T1, ông T; không chấp nhận chịu tiền chi phí thẩm định định giá, tiền án phí sơ thẩm vì bà X không khởi kiện và không yêu cầu thẩm định, định giá tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Ngô Thị X giữ nguyên nội dung kháng cáo. Nguyên đơn bà Ngô Thị T1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục tại phiên tòa.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Các đương sự chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 249 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được đảm bảo.
Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn bà Ngô Thị X có đơn kháng cáo đúng thời hạn, nộp dự phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Ngô Thị X làm đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên xác định kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Ngô Thị X:
[2.1] Nội dung kháng cáo không đồng ý giao lại nhà, đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5 tại xóm N, xã D, huyện D cho vợ chồng ông T, bà T1 với lý do: Ông T, bà T1 chưa thanh toán hết số tiền chuyển nhượng mà hai bên đã thống nhất tại Giấy cam kết lập ngày 21/7/2017; việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không hợp pháp, hợp đồng đồng chuyển nhượng không được ký tại Văn phòng công chứng vợ chồng bà bị ép buộc ký; chuyển nhượng nhà là để xiết nợ; giá chuyển nhượng thực tế cao hơn giá ghi trong hợp đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1.1] Về hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m²; địa chỉ tại xóm A (nay là xóm N), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:
Ngày 21/7/2017 ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X, ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 lập 02 Giấy cam kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với nhà gồm 01 bản viết tay và 01 bản đánh máy (bản viết tay là bản photocopy, bản gốc hiện không còn). Cả 02 giấy cam kết đều có nội dung: Hai bên đồng ý thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với nhà đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 05 diện tích 163,7m², trong đó 120m² đất ở, 43,7m² đất vườn đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/9/2015 mang tên Nguyễn Văn H1, Ngô Thị X tại xã D, huyện D; G chuyển nhượng: tại giấy cam kết viết tay giá chuyển nhượng là 5.537.000.000 đồng, tại Giấy cam kết đánh máy giá chuyển nhượng là 5.317.000.000 đồng; Phương thức thanh toán bằng tiền mặt; Bên A có nhiệm vụ giao thửa đất đã nêu trên của hợp đồng này cùng với giấy tờ và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào thời điểm bên B đã thanh toán đầy đủ cho bên A. Hai bên đã đọc lại hợp đồng này hiểu rõ quyền và nghĩa vụ lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng này. Bên chuyển nhượng: “Chúng tôi đã đọc và đồng ý nhận đủ số tiền nêu trên” Ký tên: X, H1. Bên nhận chuyển nhượng T, T1”. Người làm chứng anh Nguyễn Hồng H3 ký và ghi rõ họ tên. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Ngô Thị X cũng thừa nhận dòng chữ viết trong bản cam kết ghi “Chúng tôi đã đọc và đồng ý nhận đủ số tiền nêu trên” và ký ghi rõ họ tên Ngô Thị X, Nguyễn Văn H1 ngay phía dưới là chữ viết chữ ký của vợ chồng bà X. Tuy nhiên bà X cho rằng vợ chồng chưa nhận tiền từ bà T1, ông T, bị đơn ký vào giấy cam kết khi chưa nhận đủ tiền là do bị nguyên đơn ép buộc. Nguyên đơn ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 khẳng định đã thanh toán đầy đủ tiền cho bị đơn vào ngày 21/7/2017, bị đơn đã nhận số tiền và có ký nhận trong bản cam kết; việc giao nhận tiền có ông Nguyễn Hồng H3 chứng kiến và ký làm chứng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn không cung cấp được bất cứ tài liệu nào để chứng minh nguyên đơn ông T, bà T1 còn nợ tiền của bị đơn.
Ngày 01/8/2017, vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X đã lập hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ngô Thị T1, Trần Văn T đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện huyện D, tỉnh Nghệ An tại văn phòng C, tỉnh Nghệ An: Địa chỉ khối C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Bà X, ông H1 và những người làm chứng ông H3, ông B, bà Vân A cho rằng do người nhà bà T1, ông T gây áp lực nên bà X, ông H1 buộc phải ký hợp đồng chuyển nhượng và việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng diễn ra tại nhà bà T1, ông T, do bà H4 phòng C thực hiện. Bà T1, ông T, người làm chứng bà H4 và công chứng viên Văn phòng công chứng số II tỉnh N - bà U1 cho rằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng được thực hiện tại Văn phòng công chứng số II tỉnh N do công chứng viên Nguyễn Thị U1 thực hiện. Ông H1, bà X ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, đe dọa. Căn cứ vào hồ sơ đề nghị công chứng do Văn phòng C cung cấp thì tại Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng đề ngày 01/8/2012 người yêu cầu công chứng là ông H1, bà X; Nội dung yêu cầu: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; người nhận phiếu là bà Nguyễn Thị U1; nhận vào lúc 14h ngày 01/8/2017. Hợp đồng chuyển nhượng và lời chứng đều thể hiện được lập tại Văn phòng C, người thực hiện ký lời chứng trong hợp đồng là bà Nguyễn Thị U1 công chứng viên. Ngoài ra, cùng ngày, vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X có yêu cầu công chứng 01 hợp đồng ủy quyền với ông Cao Nhân K cũng tại văn phòng C do công chứng viên Nguyễn Thị Xuân T5 thực hiện.
Căn cứ hồ sơ đề nghị công chứng do Văn phòng C cung cấp và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 01/8/2017 giữa ông H1, bà X và ông T, bà T1, có cơ sở khẳng định ngày 01/8/2017 ông Trần Văn H6 và bà Ngô Thị X có mặt tại Văn phòng công chứng số II tỉnh N để thực hiện hợp đồng giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² địa chỉ xóm A (nay là xóm N), xã D, huyện D, Nghệ An cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1. Việc bà X cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng không ký tại Văn phòng công chứng mà do bà H4 soạn sẵn đưa đến nhà bà T1 để ký vào ngày 01/8/2017 là không có căn cứ.
Sau khi ký kết hợp đồng cho đến khi xẩy ra tranh chấp, phía bị đơn đều thừa nhận không có khiếu nại, hay đơn từ tố cáo gì đến cơ quan có thẩm quyền về việc bị vợ chồng ông T và bà T1 ép buộc, đe dọa buộc phải ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Ngoài lời khai của ông H6, bà X và những người làm chứng ông H3, bà Vân A, ông B về việc ông H6, bà X bị ông T, bà T1 ép buộc ký kết hợp đồng, phía bị đơn cũng không cung cấp được bất cứ tài liệu nào chứng minh bị ép buộc, đe dọa phải ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền với đất. Do đó, việc bà X cho rằng bà X, ông H6 ký vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 01/8/2017 do bị ép buộc, đe dọa là không có căn cứ.
Về nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Bà X, ông H6 chuyển nhượng cho bà T1, ông T thửa đất số 142, tờ bản đồ số 05 tại xóm A, xã D, diện tích 163,7m² là tài sản chung của ông H6, bà X đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H6, bà X nên ông H6, bà X có quyền định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sử dụng của mình.
Về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Bà T1, ông T đều trình bày sau khi ký giấy cam kết lập ngày 21/7/2017, ông, bà đã trả hết số tiền chuyển nhượng cho bà X, ông H6 (trong đó trả cho bà X số tiền vay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 chi nhánh D1 số tiền 2.518.468.000 đồng, số tiền còn lại thanh toán bằng tiền mặt); bà X, ông H6 đã ký hợp đồng chuyển nhượng, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến ngày 08/8/2017 bà được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên. Việc bàn giao đất và tài sản trên đất thông qua thỏa thuận miệng, không lập giấy tờ. Sau đó, do bà X, ông H6 không có chỗ để ở nên ông, bà thống nhất cho vợ chồng ông H6, bà Xuân m lại nhà, đất để ở. Bà X không thừa nhận mà cho rằng do ông T, bà T1 chưa thanh toán hết số tiền chuyển nhượng, hiện còn nợ bà 1,5 tỷ đồng nên bà không giao nhà đất cho bà T1. Căn cứ giấy cam kết lập ngày 21/7/2017, hai bên đã cam kết với nhau ông H6, bà X phải có nghĩa vụ giao đất và giấy tờ về quyền sử dụng đất vào thời điểm bà T1, ông T thanh toán đầy đủ cho ông H6, bà X. Bà X thừa nhận chữ ký chữ viết có nội dung “Chúng tôi đã đọc và đồng ý nhận đủ số tiền nêu trên” là do vợ chồng bà X ký và viết ra. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu bà cung cấp tài liệu chứng minh việc bà T1 còn nợ số tiền 1,5 tỷ đồng nhưng bà X không cung cấp được. Do đó, việc bà X cho rằng bà T1 chưa trả hết tiền chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền với đất là không có căn cứ.
Bà X cho rằng chuyển nhượng đất là để xiết nợ; giá chuyển nhượng thực tế cao hơn giá trong hợp đồng. Xét thấy: Căn cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì giá trị chuyển nhượng thửa đất là 5.317.000.000 đồng, tại thời điểm chuyển nhượng bà X, ông H6 nợ ngân hàng hơn 2.500.000.000 đồng, bà T1 là người trực tiếp cùng bà X đến ngân hàng để trả số tiền 2.517.000.000 đồng, số tiền chuyển nhượng còn lại là 2.800.000.000 đồng bà T1 trình bày đã trả cho bà X bằng tiền mặt, có như vậy bà X, ông H6 mới viết vào giấy cam kết nội dung: “Chúng tôi đã đọc và đồng ý nhận đủ số tiền nêu trên“. Bà X cho rằng bà T1, ông T xiết nợ nhưng bà X không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án bà T1 thừa nhận giá chuy ển nhượng là 5.317.000.000 đồng. Theo quy định giá ghi trong hợp đồng là căn cứ để Nhà nước tính thuế, tuy nhiên khi tính thuế cơ quan Thuế căn cứ vào bảng giá đất do Nhà nước quy định để tính thuế, nên việc ghi giá trong hợp đồng không đúng giá chuyển nhượng không làm vô hiệu hợp đồng.
Trên cơ sở hợp đồng đã ký kết, ngày 08/8/2017 thửa đất này đã được Ủy ban nhân dân huyện D công nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X với ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 đã thực hiện hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật và có hiệu lực, đảm bảo theo quy định tại Điều 503 Bộ luật dân sự, Điều 95 Luật đất đai, Điều 12 luật nhà ở. Vợ chồng ông T, bà T1 có đầy đủ quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m2 địa chỉ xóm A(nay là xóm N), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
[2.1.2] Xét hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và yêu cầu chấm dứt hợp đồng mượn nhà, đất cho ở nhờ:
Quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn trình bày: Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng đã được ký kết, hai bên đã bàn giao đất và nhà cho nhau bằng miệng. Sau khi nhận bàn giao đất và nhà, nguyên đơn ông T, bà T1 thống nhất cho gia đình bị đơn ông H1, bà Xuân m lại nhà để sinh sống trong thời hạn 07 năm không thu tiền, việc cho mượn nhà, đất có lập thành hợp đồng, tuy nhiên, hợp đồng do bị đơn ông H1, bà Xuân g. Tại phiên toà sơ thẩm, bà X đã giao nộp bản gốc Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Nội dung tại hợp đồng này thể hiện bên cho thuê cho thuê quyền sử dụng đất thửa đất số 142, tờ bản đồ số 05 tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An với thời hạn cho cho thuê là 07 năm, kể từ ngày 01/8/2017 và không lấy tiền ở, mục đích để giúp nhau; hợp đồng cũng thể hiện quyền và nghĩa vụ của bên thuê và bên cho thuê. Tuy nhiên, tại mục bên cho thuê để trống không ghi nội dung, mục bên thuê tài sản ghi là ông T, bà T1 và tại phần ký tên thì ông T, bà T1 lại ký tên bên cạnh mục bên cho thuê. Hợp đồng có người làm chứng là anh Nguyễn Văn B ký đồng thời ghi nội dung: “Ngày 01/8/2017 anh T, chị T1 cho vợ chồng anh H1, chị X mượn đất kinh doanh”. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bà T1, anh B đều khẳng định bà T1, ông T cho ông H1, bà X mượn nhà và đất, anh B xác nhận chữ viết và chữ ký phía dưới cùng của hợp đồng phần người làm chứng là của anh B. Bị đơn chỉ trình bày không đồng ý trả lại nhà và quyền sử dụng đất cho nguyên đơn mà không trình bày rõ bị đơn thuê nhà hay mượn nhà. Thực tế thì hiện nay nhà đang do bị đơnquản lý, sử dụng. Do đó, có căn cứ xác định nguyên đơn ông T, bà T1 cho bị đơn ông H1, bà X mượn nhà và đất.
Về việc thực hiện nghĩa vụ của phía bị đơn đối với việc sử dụng, bảo quản tài sản được mượn: Phía nguyên đơn trình bày: Quá trình gia đình ông H1, bà X sử dụng ngôi nhà và các tài sản gắn liền với đất, không giữ gìn vệ sinh; làm vỡ 01 cánh cửa kính cường lực của cửa chính; cho bà Hoàng Thị B1 vào sinh sống trong nhà mà không thông báo cho ông T, bà T1 được biết. Căn cứ vào tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì trong quá trình sử dụng nhà bà X có cho chị Hoàng Thị B1 ở cùng gia đình, ngày 27/8/2019, Công an xã D kiểm tra và phát hiện chị B1 sống tại nhà bà X nhưng không đăng ký tạm trú nên đã lập biên bản vi phạm hành chính và bị xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực đăng ký tạm trú với hình thức cảnh cáo. Như vậy, ông T6, bà T1 cho rằng bà X cho người khác vào ở là có căn cứ. Mặt khác, ngày 11/4/2019, bà T1, ông T đã có đơn đề nghị gia đình ông H1, bà X trả lại nhà, đất và gửi thông báo cho bà X, ông H1 biết nhưng ông H1, bà X vẫn không trả lại nhà, đất đã mượn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 499 BLDS năm 2015 thì bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản cho mượn nếu có nhu cầu cần sử dụng nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý. Như vậy, ông T, bà T1 đã thực hiện việc thông báo cho ông H1, bà X về việc đòi lại nhà, đất trước thời hạn đã thỏa thuận. Hơn nữa, theo kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm thì hiện nay gia đình bà X, ông H1 cùng các con không còn sinh sống tại nhà và đất được ông T, bà T1 cho mượn; ông H1 làm ăn ở bên Lào, thỉnh thoảng mới về; bà X thường xuyên sinh sống tại căn hộ I CT1 chung cư A thuộc khối B, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An từ năm 2019 cho đến nay. Vì vậy việc nguyên đơn ông T, bà T1 đòi lại nhà và đất cho mượn đối với bị đơn ông H1, bà X là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 499 Bộ luật dân sự .
Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền với đất ký kết ngày 1/8/2017 giữa ông H1, bà X và ông T, bà T1 được ký kết đã thực hiện hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật và có hiệu lực. Vợ chồng ông T, bà T1 có đầy đủ quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² địa chỉ 1(nay là xóm N), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và xác định có việc cho mượn đất, nhà ở nhờ giữa nguyên đơn và bị đơn. Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố chấm dứt hợp đồng cho mượn đất, nhà ở nhờ và buộc bị đơn phải phải di dời các vật dụng, tài sản để giao trả toàn bộ nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² tại địa chỉ xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cho nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra, đánh giá khách quan, toàn diện. Do đó, kháng cáo của bà Ngô Thị X về việc cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử thiếu khách quan, không đánh giá đúng bản chất của vụ án làm thiệt hại tới tài sản cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chị X; không đồng ý giao lại nhà, đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5 tại xóm N, xã D, huyện D cho vợ chồng ông T, bà T1 với lý do: Ông T, bà T1 chưa thanh toán hết số tiền chuyển nhượng mà hai bên đã thống nhất tại Giấy cam kết lập ngày 21/7/2017; việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không hợp pháp, hợp đồng đồng chuyển nhượng không được ký tại Văn phòng công chứng vợ chồng bà bị ép buộc ký; chuyển nhượng nhà là để xiết nợ là không có căn cứ và không được chấp nhận.
[2.2] Nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc bà X yêu cầu ông T, bà T1 thanh toán số tiền còn nợ (1,5 tỷ đồng) là yêu cầu phản tố và không thụ lý yêu cầu phản tố là không đúng quy định, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngày 11/6/2021, bà X có đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc bà T1 trả cho bà 1,5 tỷ đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 11/6/2021, Tòa án ban hành Thông báo số 419 yêu cầu bà X nộp 28.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí và giao Thông báo cho bà X ký nhận cùng ngày. Tại thông báo thể hiện thời hạn nộp là 7 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo, nhưng bà X không nộp, mà ngày 19/7/2021 bà X mới nộp đơn xin miễn nộp án phí do hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn xin miễn án phí của bà X và không thụ lý yêu cầu phản tố của bà X là có căn cứ và đúng quy định. Mặt khác, phần quyết định, bản án sơ thẩm cũng đã nêu rõ: Dành quyền khởi kiện cho ông H1, bà X về yêu cầu phản tố chưa giải quyết trong vụ án khi ông H1, bà X có yêu cầu. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.
[2.3] Kháng cáo về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông T, bà T1 và ông H1, bà X: nội dung này tại cấp sơ thẩm bị đơn không yêu cầu, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Do đó, cấp phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét. Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.
[2.4] Kháng cáo chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ theo quy định của pháp luật, phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với đất và nhà tranh chấp và thực hiện việc nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.200.000 đồng. Theo quyết định của bản án sơ thẩm, yêu cầu của ông T, bà T1 được chấp nhận do đó ông T, bà T1 không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là ông H1, bà X. Ông T, bà T1 tự nguyện chịu 2.100.000 đồng, phần còn lại (2.100.000 đồng) Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về xử lý tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ buộc bà X, ông H1 phải hoàn trả cho ông T, bà X là đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà T1 được chấp nhận nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông H1, bà X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà Ngô Thị X.
[3] Án phí: Kháng cáo của bà Ngô Thị X không được chấp nhận nên bà X phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị X, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 11/2021/DSST ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.
2. Căn cứ Điều 503, 164, 166, 494, 496, 497, 499 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 Luật đất đai; Điều 12 luật nhà ở, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1; Chấm dứt hợp đồng cho mượn nhà, đất ở nhờ giữa ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 và ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X.
Buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X giao trả lại cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 897952 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 03/9/2015 tại nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 08/8/2017 “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T CMND số [...] và vợ là bà Ngô Thị T1, CMND số 1819255937, địa chỉ xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ số 17004531” có kích thước và tứ cận như sau: Phía Đông dài 20,87 mét giáp với nhà ông Nguyễn Văn C; Phía Tây dài 21,24 mét giáp nhà ông Cao Xuân N; Phía Nam dài 5,59 mét giáp Quốc lộ G; Phía Bắc dài 6,03 mét giáp đường giao thông xóm. Tổng diện tích của thửa đất là 163,7 m².
Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X di dời các vật dụng, tài sản gồm: Hệ thống tủ nhôm kính, tủ sắt, hệ thống kệ rời đựng đồ, hàng hóa liên quan văn phòng phẩm; 03 chiếc điều hòa, 06 quạt treo tường để giao trả toàn bộ nhà và đất tại thửa đất số 142, tờ bản đồ số 5, diện tích 163,7m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 897952 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 03/9/2015 tại nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 08/8/2017 “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T CMND số [...] và vợ là bà Ngô Thị T1, CMND số 1819255937, địa chỉ xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ số 17004531” cho ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1.
Dành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X về yêu cầu phản tố chưa giải quyết trong vụ án khi ông H1, bà X có yêu cầu.
3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Trần Văn T và bà Ngô Thị T1 thỏa thuận nộp 2.100.000 đồng (Ông T, bà T1 đã nộp đủ). Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị X phải nộp 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) để hoàn trả cho ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1.
4. Án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
4.1.1. Buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Ngô Thị X phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4.1.2.Trả lại cho ông Trần Văn T, bà Ngô Thị T1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai số AA/2019.0003124 ngày 16/12/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị X phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nạp theo biên lai số 0001543 ngày 20/1/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 54/2022/DS-PT ngày 28/10/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho ở nhờ
- Số bản án: 54/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho ở nhờ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho ở nhờ, Trân Văn T và Nguyễn Văn H
