|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 52/2024/HSST Ngày: 13/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Cương.
- Ông Nguyễn Văn Chiến.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Ngày 13/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Hoàng H, sinh năm 1982;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 09/12; Họ và tên bố: Lương Xuân L - sinh năm 1955; Họ và tên mẹ: Trịnh Thị H1 - sinh năm 1960; Vợ: Vũ Thị Y - sinh năm 1983 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 19/12/2013, bị Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” (đã chấp hành ngày 03/01/2014).
- - Ngày 07/01/2014, bị Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
- - Ngày 28/4/2020, bị Công an xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe thành viên gia đình” (đã chấp hành ngày 28/4/2020).
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1983 (có mặt).
- Cháu Lương Ngọc B, sinh năm 2008 (có mặt).
- Cháu Lương Thị Thu Q, sinh năm 2015 (có đơn xin vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của cháu B và cháu Q: Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1983 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Bản N, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người chứng kiến:
Anh Bồ Xuân T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ ngày 03/8/2024, tổ công tác Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang Lương Hoàng H đang có hành vi sản xuất hàng cấm (pháo nổ) tại nhà. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: 31 vật hình tròn đều có đường kính 09cm, một đầu được gắn dây ngòi cháy chậm (nghi là pháo nổ) được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông ký hiệu “Pháo nổ”; 01 con dao chiều dài 37cm; 01 quận băng dính trắng; 01 kìm bằng kim loại, phần tay cầm được bọc nhựa màu đỏ; 01 kéo bằng kim loại, phần tay cầm được bọc nhựa màu đen trắng; 01 cân tiểu ly phía sau có chữ “Digital Pocket Scale" loại 3000gram; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 355374080975485.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Hoàng H, quá trình khám xét không thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội. Đồng thời, tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của H nhưng không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của H.
Tại Kết luận giám định số 1735/KL-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) thùng bìa cát tông được dán kín, niêm phong, ký hiệu “Pháo nổ” đã được niêm phong gửi giám định: 31 (ba mươi mốt) vật hình tròn, đường kính 09cm, một đầu được gắn dây ngòi đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 10,2 kg (mười phẩy hai ki lô gam)".
Quá trình điều tra, H khai nhận: Do muốn có pháo nổ để đốt vào dịp Tết Nguyên đán 2025 nên khoảng giữa tháng 7/2024 (không nhớ ngày cụ thể), H lên mạng xã hội (H không nhớ tên và địa chỉ của trang mạng này) tìm và đặt mua được của một người không biết tên tuổi, địa chỉ các nguyên vật liệu dùng để sản xuất 31 quả pháo nổ với tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Khoảng 03 ngày sau, H nhận được các nguyên liệu này do một người vận chuyển hàng chuyển đến. H kiểm tra nguyên liệu đặt về gồm có: 31 vỏ pháo làm bằng giấy bìa cứng (dạng nửa hình cầu rỗng) không gắn dây ngòi; 31 vỏ pháo làm bằng giấy bìa cứng (dạng nửa hình cầu rỗng), mỗi vỏ pháo gắn 01 dây ngòi cháy chậm; các quả nổ màu đen (làm bằng KNO3, lưu huỳnh và than củi), 32 cuộn băng dính, 01 cuộn màng bọc thực phẩm và một số hóa chất khác (không biết là gì). Sau đó, H tiếp tục chuẩn bị các công cụ để sản xuất pháo gồm: Dao, kéo, kìm, cân tiểu li để phục vụ việc sản xuất xuất pháo nổ, đây đều là những công cụ sinh hoạt, lao động hằng ngày của gia đình H. Trong thời gian từ khoảng cuối tháng 07/2024 đến khi bắt quả tang, H tranh thủ những ngày mưa nghỉ làm để sản xuất pháo nổ tại gian bếp của gia đình ở bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với quy trình sản xuất như sau:
Đầu tiên, H cho các quả nổ và hóa chất mua về vào trong lõi của 02 vỏ pháo (gồm 01 vỏ pháo không gắn dây ngòi và 01 vỏ pháo có gắn dây ngòi), dùng cân tiểu li để cân sao cho mỗi vỏ pháo có trọng lượng khoảng 150 gram. Sau đó, H sử dụng màng bọc thực phẩm bọc kín 01 vỏ pháo vừa nhồi quả nổ và hóa chất, rồi đặt vỏ pháo vừa bọc ghép vào vỏ pháo nhồi hóa chất còn lại tạo thành 01 quả pháo dạng hình cầu, có đường kính 09 cm, trọng lượng khoảng hơn 300 gram, tiếp tục sử dụng băng dính dán và gắn cố định 02 vỏ pháo vừa ghép lại với nhau tạo thành 01 quả pháo nổ (mỗi quả pháo H sử dụng 01 cuộn băng dính để dán cố định). Đối với các công cụ thì H sử dụng dao, kéo để cắt băng dính và màng bọc thực phẩm, còn kìm thì H sử dụng để gõ khi gắn 02 nửa vỏ pháo lại với nhau cho chắc chắn.
Với cách thức như vậy, đến ngày 03/8/2024, H đã sản xuất được 31 quả pháo hình tròn với tổng khối lượng là 10,2 kg. Mục đích H sản xuất xuất pháo nổ để đốt vào dịp tết Nguyên Đán năm 2025, ngoài ra không có mục đích gì khác.
Ngày 19/9/2024, Cơ quan điều tra cho Lương Hoàng H thực nghiệm điều tra hành vi sản xuất pháo nổ. Kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của H và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Cáo trạng số 50/CT-VKS-YT ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Lương Hoàng H về tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lương Hoàng H từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sản xuất hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa cattong dán kín, ký hiệu “Pháo nổ”, bên trong có 8,8kg pháo nổ; 01 cân tiểu ly, 01 kéo bằng kim loại, 01 con dao có chuôi bằng gỗ, 01 cuộn băng dính trắng, 01 kìm bằng kim loại.
- - Trả lại H 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Lương Thị Thu Q vắng mặt nhưng người đại diện hợp pháp là chị Vũ Thị Y có mặt; người làm chứng và người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 10 giờ ngày 03/8/2024, tại nhà ở của Lương Hoàng H ở bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang Lương Hoàng H đang có hành vi sản xuất hàng cấm (pháo nổ). Thu giữ 10,2 kg pháo nổ của H đã sản xuất với mục đích để đốt vào dịp Tết Nguyên đán năm 2025.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hành vi sản xuất trái phép 10,2 kg pháo nổ nhằm mục đích để đốt vào dịp tết Nguyên đán 2025 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 50/CT-VKS-YT ngày 22/10/2024 và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tại phiên tòa đối với bị cáo Lương Hoàng H là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi:
Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Y xảy ra rất nhiều vụ tan nạn thương tâm, gây thiệt hại nặng nề về tính mạng, sức khỏe cho người dân xuất phát từ việc sản xuất, sử dụng trái phép pháo nổ. Hành vi sản xuất hàng cấm của bị cáo không chỉ có nguy cơ gây mất an toàn cho bản thân bị cáo mà còn gây mất an toàn cho những người xung quanh. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo H là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, thực hiện hành vi có mức độ gây nguy hại lớn cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022. Vì vậy, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo, có như vậy mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[6] Về vật chứng:
Đối với 8,8 kg pháo nổ còn lại sau giám định là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 cân tiểu ly, 01 kéo bằng kim loại, 01 con dao có chuôi bằng gỗ, 01 cuộn băng dính trắng, 01 kìm bằng kim loại là những vật chứng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng có giá trị không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại kiểu dáng Iphone đã thu giữ của H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về các vấn đề khác:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động H sử dụng để xem các video hướng dẫn cách sản xuất pháo trên mạng xã hội Youtube và đặt mua hóa chất, công cụ sản xuất pháo, đã bị rơi mất khoảng tháng 7/2024 không rõ rơi ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm.
- - Đối với số nguyên liệu, hóa chất mà H mua về để làm công cụ sản xuất pháo nổ, H khai nhận đặt mua trên mạng xã hội, không nhớ trang mạng nào và không còn lưu địa chỉ hay lịch sử mua hàng, không có hóa đơn mua hàng nên không có căn cứ xác minh làm rõ nguồn gốc, người bán và người vận chuyển số công cụ, hóa chất trên cho H để xử lý.
- - Đối với chị Vũ Thị Y, cháu Lương Ngọc B và cháu Lương Thị Thu Q không biết việc H sử dụng các công cụ sinh hoạt của gia đình để làm công cụ sản xuất pháo nổ nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự; Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Về tội danh và hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Lương Hoàng H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Sản xuất hàng cấm”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lương Hoàng H.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Phòng K Công an tỉnh B, ký hiệu là “Pháo nổ”, bên trong có 8,8 kg (tám phẩy tám ki lô gram) pháo nổ.
- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa cát tông dán kín niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y, ký hiệu là “NP-Công cụ”, bên trong có: 01 (một) cân tiểu li, phía sau có chữ "Digital Pocket Scale", loại 3000 gram; 01 (một) kéo bằng kim loại, phần tay cầm được bọc nhựa màu đen trăng; 01 (một) con dao có chuôi bằng gỗ, mũi dao nhọn, chiều dài 37 cm; 01 (một) cuộn băng dính trắng; 01 (một) kìm bằng kim loại, phần tay cầm được bọc nhựa màu đỏ.
- Trả lại Lương Hoàng H 01 (một) phong bì thư dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y, ký hiệu là “NP-Điện thoại”, bên trong có 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số Imei: 3553740809975485, điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lương Hoàng H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 52/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tội sản xuất hàng cấm
- Số bản án: 52/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội Sản xuất hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Lương Hoàng H phạm tội Sản xuất hàng cấm
