TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53A/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Minh Phương.
2. Ông Nguyễn Văn Kỹ.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/5/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997. HKTT: Số C, ngõ B M, quận N, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998. HKTT: Thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang trú tại: A C road, W, Australia.
Các đương sự đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày: Qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, anh và chị Nguyễn Thị H đã tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2019 tại UBND phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, khoảng giữa năm 2022 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân xác định do bất đồng quan điểm sống không thể hòa hợp, vợ chồng đã ly thân được gần 02 năm, không còn quan tâm nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không đạt được nên anh C xin được ly hôn với chị H.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh V, sinh ngày 21/4/2020, khi ly hôn anh đồng ý để chị H trực tiếp nuôi cháu V, vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Hiện nay, do công việc của anh rất bận không thể xin nghỉ phép được và anh xác định tìm cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được vì vậy, anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải (bao gồm cả phiên hòa giải đối thoại tại Trung tâm hòa giải đối thoại) và đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, chị và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997. HKTT: Số C, ngõ B M, quận N, thành phố Hà Nội đã tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2019 tại UBND phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau. Năm 2022, chị đi nước ngoài, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh C.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh V, sinh ngày 21/4/2020, khi ly hôn chị đồng ý nuôi cháu và không yêu cầu Tòa án giải quyết phần cấp dưỡng.
Tài sản chung, công nợ: Chúng tôi không có.
Hiện nay, do chị đang ở nước ngoài, không thể về Việt Nam và chị xác định tìm cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được vì vậy chị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải (bao gồm cả phiên hòa giải đối thoại tại Trung tâm hòa giải đối thoại) và đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa: Các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng chấp hành tốt pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh C, xử cho anh C được ly hôn chị H; Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Thanh V, sinh ngày 21/4/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; vấn đề cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn C có đơn yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay chị H đang cư trú, làm việc tại nước Australia nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình chung sống: Vợ chồng sau khi kết hôn sống hạnh phúc thời gian đầu. Nhưng đến nay vợ chồng anh C, chị H vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân xác định do bất đồng quan điểm sống không thể hòa hợp, vợ chồng đã ly thân được gần 02 năm. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục cuộc hôn nhân sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống chung của các bên. Nay anh C có đơn xin ly hôn, chị H cũng đồng ý nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C, xử anh C được ly hôn chị H.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh C, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh V, sinh ngày 21/4/2020; cháu V còn nhỏ và vợ chồng anh C, chị H đều thống nhất giao cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu, cần giao cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng các bên đương sự đều không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Anh C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn C: Anh Nguyễn Văn C được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Giao cháu Nguyễn Thanh V, sinh ngày 21/4/2020 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn C được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh C đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000064 ngày 02/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 53A/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 53A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh C xin ly hôn chị H
