Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 539/2025/DS-PT

Ngày: 27 - 5 - 2025

V/v Tranh chấp đòi nhà.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Chung Văn kết

Ông Hoàng Minh Thịnh

– Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp đòi nhà”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 796/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2903/2025/QĐPT ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn N, (chết năm 2006)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N:

  1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1936 (chết năm 2021)
  2. Bà Trần Thị Xuân M1, sinh năm 1966 (có mặt);
  3. Bà Trần Thị Thu C, sinh năm 1969 (có mặt);
  4. Bà Trần Thị Anh Đ, sinh năm 1970 (có mặt);
  5. Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1971 (vắng mặt)
  6. Ông Trần Thiện Minh T, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Số G đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C, bà Đ, bà P, ông T: Bà Trần Thị Xuân M1 (Có mặt);

Theo các Giấy ủy quyền số 5987 quyển số 13 TP/CC-SCT/HĐGD ngày 13/11/2006 tại Ủy ban nhân dân quận P; Giấy ủy quyền số 1645 quyển số 02/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 21/11/2006 tại Ủy ban nhân dân Quận A; Giấy ủy quyền ngày 27/11/2006 được xác nhận của Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đ.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng S, sinh năm 1932 (chết năm 2022);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S:

  1. Bà Cao Thị C1, sinh năm 1931 (có mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1966 (có mặt);
  3. Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1968 (xin vắng);
  4. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1971 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Số B đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C1, ông H: Bà Lý Cẩm H1, sinh năm 1956 (có mặt);

Địa chỉ: Số C đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy uỷ quyền số 004615 quyển số 5/2023 TP/CC-SCC-HĐGD ngày 06/7/2018 của Văn phòng C3.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C1, bà P1, bà L, ông H: Luật sư Lê Đình P2, sinh năm 1950 (có mặt);

Địa chỉ: Số C đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

  1. Bà Nguyễn Thị Quỳnh N1, sinh năm 1969 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà F, đường T, Tổ dân phố C, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1965 (có mặt);

Địa chỉ: Số nhà A đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L1: Luật sư Lê Đình P2, sinh năm 1950 (có mặt);

Địa chỉ: Số C đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Cao Thị C1, sinh năm 1931 (có mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1966 (vắng mặt);
  3. Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1968 (vắng mặt);
  4. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1971 (có mặt);
  5. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1956 (xin vắng);
  6. Bà Quách Trần Anh P3, sinh năm 1980 (xin vắng);
  7. Bà Quách Trần Vy P4, sinh năm 1986 (xin vắng);
  8. Ông Phạm Thanh T2, sinh năm 1988 (xin vắng);
  9. Trẻ Võ Phương Nhã U, sinh năm 2017 (vắng mặt);
  10. Trẻ Võ Phương Tuệ L2, sinh năm 2014 (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của 2 trẻ U và L2: Bà Quách Trần Vy P4, sinh năm 1986;

  1. Ông Quách Đ1, sinh năm 1957 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Số B đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C1, ông H, ông Quách Đ1: Bà Lý Cẩm H1, sinh năm 1956 (có mặt);

Địa chỉ: Số C đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy uỷ quyền số 004858 quyển số 7/TP/CC-SCC-HĐGD ngày 06/7/2018 của Văn phòng C3.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1, bà Anh P3, bà Vy P4, ông Quách Đ1: Luật sư Lê Đình P2, sinh năm 1950 (có mặt);

Địa chỉ: Số C đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Do có kháng cáo của người kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn bà Cao Thị C1, Nguyễn Thị Kiều L, Nguyễn Thị Kim P1, ông Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Thanh L1 và người liên quan ông Quách Đ1, bà Trần Thị T1, bà Quách Trần Vy P4, Quách Trần Anh P3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2002, đơn khởi kiện bổ sung ngày 21/3/2022, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn N có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên trình bày:

Căn nhà và đất tại B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là nhà đất 28B) do ông Trần Văn B (chết 1961) và bà Trần Thị Đ2 (chết 1991) mua đất theo hình thức hợp thức hoá 106 của Đô thành S1 ngày 26/8/1953, nộp tiền trước bạ ngày 4/9/1953. Từ năm 1959, ông Nguyễn Hùng S đã thuê nhà đất số B và đóng tiền thuê hàng tháng. Sau ngày 30/4/1975, với lý do khó khăn về kinh tế nên ông S không tiếp tục thanh toán tiền thuê nhà. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, ông S vẫn kê khai rõ đây là đất của bà Đ2. Nhà đất số 28B thuộc thửa 61 của Bằng khoán 616 S - G, được chiết ra từ Bằng khoán 167, lập bộ ngày 23/5/1934.

Sau khi bà Đ2 chết, ông Trần Văn N (là con của ông B và bà Đ2) có yêu cầu ông S giải quyết vấn đề về nhà đất số 28B, nhưng ông S không chịu hợp tác. Do đó, cho đến nay hoàn toàn không có việc sang nhượng nhà đất số B N cho ông Nguyễn Hùng S.

Căn cứ vào phiếu xác minh ngày 19/9/1985 của Hội đồng kiểm tra xử lý nhà Quận A và Công văn số 1904/TNMT ký ngày 26/9/2013 xác minh về nhà đất 28B Nguyễn Hữu C2 của Phòng T8, ông S khai rằng: Nhà đất này ông sang lại của bà T5, giấy tờ sang nhượng đã bị thất lạc, nhưng tại tờ khai nguồn gốc căn nhà ngày 07/10/2008, bản tự khai ngày 18/6/2008, ngày 25/5/2009 và tờ khai đăng ký nhà đất năm 1977, ông S khai là sang lại nhà 28B Nguyễn Hữu C2 của ông Trần Văn B với giá tương đương 07 (Bảy) lượng vàng vào năm 1959 chỉ nói miệng, không có giấy tờ.

Năm 1962, trong tờ giao kèo trả nhà đất số B N cho bà T5, chính ông ký tên vào chỗ người mướn nhà.

Căn cứ vào những chứng cứ nói trên cho thấy ông S đã khai man vì cùng một căn nhà, cùng một thời điểm năm 1959, ông không thể sang nhượng cùng một lúc. Thực chất không có việc sang nhượng mà ông chỉ là người mướn nhà của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2. Hơn nữa, sang nhượng với số lượng vàng lớn mà không giấy tờ chỉ nói miệng là điều bất hợp lý.

Năm 1988, ông S và bà T6 (nhà 28C) có lên xin cơi nới phần gác phía sau để cho gia đình con gái và các cháu ngoại về ở, đồng thời cam kết chịu mọi trách nhiệm khi gia đình nguyên đơn yêu cầu tháo dỡ và không yêu cầu tính chi phí bồi thường. Như vậy, nếu không phải nhà của chúng tôi, thì tại sao ông S và bà T6 lại lên xin phép chúng tôi để cơi nới.

Năm 1962, chính quyền Pháp cấp đất cho bà T5 xây nhà 26 Nguyễn Hữu C2, nên hai bên ký biên bản giao kèo trả đất mà bà T5 được cấp. Bà Lê Thị H2 trả phần đất nhà 28 N, cho nên hiện nay đất nhà 28 Nguyễn Hữu C2 chỉ còn như hiện trạng thực tại. Nguyên đơn trả một phần đất nhà 28B Nguyễn Hữu C2.

Không có việc ra tòa đòi đất chiếm dụng nào cả. Bà T5 phải sửa lại hai căn nhà 28A và 28B Nguyễn Hữu C2 trả lại cho bà Trần Thị Đ2. Không có chuyện ông Nguyễn Hùng S (người mướn nhà) phải chịu toàn bộ chi phí vật tư xây dựng, sửa nhà như bị đơn đã khai. Bản giao kèo do bị đơn cung cấp đã ghi rõ điều này.

Điều này chứng minh rằng phần đất đã giao trả xong, phần đất còn lại xây cất hai căn nhà 28A và 28B hiện tại là của Nguyên đơn một cách hợp pháp vì phía nguyên đơn đã có biên bản hợp thức hóa (đã đóng tiền hợp thức hóa từ tháng 9/1953). Từ chế độ cũ cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào của chính quyền chế độ cũ và chính quyền Nhà nước hiện nay hủy bỏ quyền sở hữu và sử dụng đất của gia đình nguyên đơn do Đô trưởng Đô Thành S - Chợ L Nguyễn Phước L3 đã ký.

Đối với người thừa kế thì ông B và bà Đ2 chỉ có một người con chung duy nhất là ông Trần Văn N, có khai sinh lập năm 1940, trích lục năm 2003 tại Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, có tờ tông chi của dòng họ xác nhận là con duy nhất. Ngoài ra, trong Công văn số 1904 ngày 26/9/2013 của Phòng T8 cũng xác nhận:

  • - Ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2 chỉ có một người con chung duy nhất là ông Trần Văn N.
  • - Nhà B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Trần Văn B tự xây dựng và đã hợp thức hóa.
  • - Hồ sơ lưu trữ không thể hiện được quyền sử dụng đất và sở hữu nhà hiện tại là của ai, cho nên không phải như ông S cho rằng nhà này nằm trên đất thuộc bằng khoán 1121 của ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị H2, nên ông N không thể đòi nhà.
  • - Nhà đất thuộc thửa 68, tờ bản đồ 61 là sai.

Qua hồ sơ, nguyên đơn xin trình bày những chứng cứ xác minh những điều nguyên đơn nói là sự thật:

  • - Theo lời khai của bà Trần Thúy N2, sinh năm 1940 là con đầu lòng của ông T3, bà H2 trước tòa là họ không biết gì về căn nhà này.
  • - Theo bản vẽ sơ đồ nhà đất xin cấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ngày 31/8/2002 của bị đơn.
  • - Theo bản vẽ hiện trạng thẩm định nhà ngày 26/8/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Theo Công văn số 13652/TTDK-KT ký ngày 20/5/2008 và ngày 03/02/2006. Đặc biệt là Công văn số 12239 ký ngày 08/8/2008 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H thì nhà đất 28B Nguyễn Hữu C2 nằm ở thửa 61, tờ bản đồ 58 thuộc bằng khoán 616, không phải nằm ở bằng khoán 1121 của ông T3 và bà H2. Bằng khoán 1121 đã ghi rõ trên đó chỉ có một căn nhà mang số 28 Nguyễn Hữu C2 mà thôi.
  • - Tờ đăng ký kê khai nhà đất năm 1977 ông S cũng ghi rõ chủ sở hữu đất là bà Trần Thị Đ2.
  • - Tờ kê khai nhà đất năm 1999 ông S cũng kê khai nhà đất là của ông Trần Văn B.

Ngoài chứng cứ do gia đình nguyên đơn đưa ra, kết hợp với lời khai và chứng cứ do bị đơn cùng với các bản trích lục hồ sơ của các ban ngành cung cấp, cho thấy rằng nhà đất 28B Nguyễn Hữu C2 cho đến nay vẫn là nhà đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2. Ông Trần Văn N là người thừa kế hợp pháp và duy nhất. Ông Nguyễn Hùng S là người mướn nhà. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Tòa án:

  • - Bác bỏ quyền tham dự của phía các con của ông T3, bà H2 vì họ không phải là chủ sở hữu nhà đất 28B Nguyễn Hữu C2 và họ cũng không phải là thừa kế của ông B và bà Đ2.
  • - Nguyên đơn yêu cầu được lấy lại nhà vì gia đình bị đơn chiếm dụng đã rất lâu, và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà đất số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho phía nguyên đơn.

Theo đơn phản tố và đơn bổ sung yêu cầu phản tố ngày 18/3/2021, ngày 29/11/2021, ngày 17/5/2023, ngày 01/11/2023, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lý Cẩm H1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

  • - Về nguồn gốc nhà đất: Nhà đất B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong ba căn nhà (B, 28B, 28C) do ông Trần Văn B, người đứng tên xin hợp thức hóa những nơi xây dựng không phép (Biên bản số 106 ngày 20/8/1953) trên mảnh đất phía sau nhà số B đường V (sau năm 1954 đổi là Trần Văn T4 và sau năm 1975 đổi là Nguyễn Hữu C2).
  • Năm 1959, gia đình ông S có sang lại nhà đất số 28B Nguyễn Hữu C2 của ông Trần Văn B với số tiền lúc đó là 18.500 đồng tương đương 07 lượng vàng, không lập thành văn bản. Nhà chỉ có biên bản xin hợp thức hóa những nơi xây dựng không phép (Biên bản số 106 ngày 20/8/1953), giao kèo chỉ nói miệng (nhận tiền và giao nhà). Trong thực tế, nếu không đưa tiền cho chủ nhà sang nhượng thì không ai cho mình ở bao giờ, hơn nữa ở thời điểm đó - năm 1959 đất không có giá trị bao nhiêu, nhà thì lụp xụp). Hiện trạng căn nhà lúc bấy giờ là: nhà cây lợp ngói, không có trần, không có sân trong, không có nhà vệ sinh, nhà rất thấp và rất cũ... không đảm bảo cho việc sinh sống. Lúc đó nhà không có điện, không có nước. Cụ B cho sử dụng điện nước của nhà 28 Nguyễn Hữu C2 và ông S phải trả tiền điện nước cho cụ B mỗi tháng 100 đồng (cũng chỉ nói bằng miệng không lập thành văn bản). Sau này gia đình ông S mới biết căn nhà này thuộc sở hữu của ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị H2.
  • Đến năm 1962, vì căn nhà 28B và 28C có diện tích lấn chiếm một phần đất nhà số B đường N. Lúc đó bà Albert T5 đã kiện ra tòa để đòi lại phần đất xây dựng lấn chiếm, xâm phạm vào phần đất của nhà số B đường N (khoảng 1,5m), lúc này ông Trần Văn B qua đời (chết năm 1961), con dâu ông Trần Văn B là bà Lê Thị H2 ngụ tại số A đường V, quận P là chủ căn nhà 28 Nguyễn Hữu C2 viết thư đồng ý trả đất, nên bà Albert T5 đã thỏa thuận với nhà 28, 28B và 28A (nhà 28A của ông Phạm Văn L4 dính liền nhà ông Sơn 2, nên khi tháo dỡ nhà ông S thì phải tháo dỡ nhà ông Lâm 21). Các bên thỏa thuận lập bản giao kèo ngày 13/4/1962 cụ thể như sau:
    • + Ông Nguyễn Hùng S nhà số B; ông Phạm Văn L4 nhà số B và bà Đỗ Thị T6 nhà số B đường N chịu toàn bộ chi phí vật tư xây dựng.
    • + Bà Albert T5 chịu chi phí nhân công như đã thỏa thuận.
    • + Bà Trần Thị Đ2 không bỏ ra đồng nào cả.
  • Trên cơ sở thỏa thuận như trên, gia đình ông S đã bỏ tiền để xây dựng lại căn nhà mới, nâng nền lên cao 1 mét (1m) để khỏi bị ngập nước khi mùa mưa đến, lót gạch bông và làm thêm một gác gỗ để sử dụng cho đến nay.
  • Sau này gia đình ông S mới biết qua ông Trần Quốc D là con trai ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị H2 (ông T3 là con ruột duy nhất của ông B). ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị Hay L5 chủ sở hữu căn nhà 28 N, trong đó có phần diện tích các căn nhà 28A, 28B, 28C Nguyễn Hữu C2 (theo bằng khoán điền thổ).
  • - Người quản lý và sử dụng nhà đất số B N:
  • Gia đình ông S đã làm ăn sinh sống, thường xuyên tu bổ sửa chữa nhà đất 28B từ năm 1959 đến nay và luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với chính quyền địa phương, thực hiện đóng thuế đất đầy đủ. Trong các đợt tổng kiểm tra nhà đất trên cả nước năm 1977 và kiểm kê nhà đất năm 1999, ông S đã tiến hành kê khai, đăng ký theo đúng chủ trương của nhà nước. Gia đình ông S đã nhận sang nhượng nhà đất số 28B của ông Trần Văn B từ năm 1959 đến nay đã gần 50 năm.
  • Mặt khác, theo bằng khoán điền thổ số 1121 ngày 27/01/1953 thì ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị Hay L5 người tạo lập (mua) được một bất động sản tại số B đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, ông Trần Văn N không phải là con của ông B mà là con riêng của bà Trần Thị Đ2. Ông B chỉ có một (01) người con trai duy nhất là ông Trần Văn T3.

Bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu tòa án xác định nhà đất tại số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc tờ bản đồ số 58, Bộ địa chính phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu 2003), bằng khoán 1121 tờ bản đồ thứ nhất S - G (theo tài liệu cũ), nay thuộc phường T, Quận A có diện tích 21,6m²; bất động sản số 1121 S - G chiết từ bằng khoán số 41, lập bộ ngày 27/01/1953, có diện tích 250m², do vợ chồng ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị H2 đứng bộ. Đề nghị Tòa án xem xét Điều 236 BLDS 2015 về việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật để công nhận quyền sở hữu cho ông Nguyễn Hùng S đối với nhà đất tại địa chỉ số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, bị đơn yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nhà cho thuê của nguyên đơn, công nhận quyền sở hữu nhà đất số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho gia đình bị đơn. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phía bị đơn yêu cầu nguyên đơn bồi hoàn cho bị đơn hai khoản:

  • + Giá trị nhà đất số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã được xây dựng lại với số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.
  • + Công Sức giữ gìn, bảo quản làm tăng giá trị nhà đất từ năm 1959 đến nay với số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.

Tổng cộng là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim P1, bà Nguyễn Thị Quỳnh N1, bà Trần Thị T1, bà Quách Trần Anh P3, bà Quách Trần Vy P4 trình bày:

Họ đều không có tham gia xây dựng, tôn tạo nhà đất B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

- Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 796/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại địa chỉ số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng và quyền sở hữu của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2. (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 25/7/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H).
    2. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cùng tất cả những người cư trú tại nhà đất số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải giao trả toàn bộ nguyên trạng nhà đất trên cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Văn N là các ông bà Trần Thị Xuân M1, Trần Thị Thu C, Trần Thị Anh Đ, Trần Thị Kim P, Trần Thiện Minh T ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    3. Các ông bà Trần Thị Xuân M1, Trần Thị Thu C, Trần Thị Anh Đ, Trần Thị Kim P, Trần Thiện Minh T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành làm các thủ tục đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc:
    1. Yêu cầu Tòa án công nhận nhà đất số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị Hay L5 chủ sở hữu.
    2. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật để công nhận quyền sở hữu cho ông Nguyễn Hùng S đối với nhà đất tại địa chỉ số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đề nghị Tòa án xem xét buộc nguyên đơn bồi hoàn cho phía bị đơn hai khoản:
      • - Giá trị căn nhà B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã được xây dựng lại với số tiền 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng.
      • - Công sức giữ gìn, bảo quản, làm tăng giá trị nhà đất từ năm 1959 đến nay với số tiền 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng.

      Tổng cộng hai khoản tiền là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng.

  3. Ghi nhận sự tự nguyện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Văn N gồm các ông bà Trần Thị Xuân M1, Trần Thị Thu C, Trần Thị Anh Đ, Trần Thị Kim P, Trần Thiện Minh T đồng ý thanh toán cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hùng S giá trị xây dựng, công sức đóng góp bảo quản giữ gìn đối với nhà đất số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và hỗ trợ chi phí di dời với số tiền là 48.600.000 đồng + 219.440.000 đồng + 331.960.000 đồng = 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 06/3/2023, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Cao Thị C1, Nguyễn Thị Kiều L, Nguyễn Thị Kim P1, ông Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Thanh L1 và người liên quan ông Quách Đ1, bà Trần Thị T1, Bà Quách Trần Vy P4, Quách Trần Anh P3 kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Cao Thị C1, Nguyễn Thị Kiều L, Nguyễn Thị Kim P1, ông Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Thanh L1 và người liên quan ông Quách Đ1, bà Trần Thị T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Ông S khi còn sống đã khai tại Tòa án là nhận nhượng nhà nhưng không có giấy tờ chứng minh. Tại tờ giao kèo ngày 13/4/1962 sau khi bà Albert T5 làm lại nhà để trả cho ông B thì chính ông S ký mục người thuê nhà. Năm 1977 ông S kê khai nhà ông S sử dụng, đất của ông B, bà Đ2. Các con của bà H2 đã có lời khai là không liên quan đất nhà đất 28B, bị đơn cho rằng nhà đất của bà H2 nên phải đưa các con bà H2 tham gia tố tụng là không có căn cứ.
  • - Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị hủy án sơ thẩm để làm rõ các nội dung:
    • Về nhà: Ông B xin hợp pháp hóa 3 căn nhà B A-B-C N. Nhà ông B xây dựng năm 1953 đã không còn vì năm 1962 đã được xây dựng lại theo tờ giao kèo năm 1962 nên không có căn cứ đòi lại nhà.
    • Về đất: Có sự không nhất quán của cơ quan quản lý nhà đất về việc xác định nhà đất 28B Nguyễn Hữu C2 thuộc bằng khoán nào. Bằng khoán 1121 do ông T3, bà H2 đứng bộ nhưng không đưa các đồng thừa kế của họ tham gia tố tụng. Sở T9 có 2 văn bản trả lời, khi áp ranh bản đồ 1 thì bằng khoán 1121, bản đồ 2 (Trước năm 1955) thì bằng khoán 616. Bị đơn có văn bản đề nghị tòa án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu chứng cứ nhưng chưa được trả lời.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Hồ sơ vụ án cấp sơ thẩm thụ lý từ năm 2003, có nhiều tài liệu chứng cứ được thu thập. Cấp sơ thẩm xét xử và xác định đất không phải của bà H2, ông T3 mà là tài sản của ông B, bà Đ2 là có căn cứ. Bị đơn, người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn nêu các ý kiến còn mâu thuẫn chưa được làm rõ nhưng cấp sơ thẩm đã có văn bản xác minh, không có căn cứ xác định tài sản của ông S. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không có chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Tòa án giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Cao Thị C1, Nguyễn Thị Kiều L, Nguyễn Thị Kim P1, ông Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Thanh L1 và người liên quan ông Quách Đ1, bà Trần Thị T1 nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định (nhận bản án ngày 18/10/2024 nộp đơn kháng cáo ngày 30/10/2024) nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Bà Quách Trần Vy P4, Quách Trần Anh P3 có cùng ký đơn kháng cáo chung, đã được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nhưng không nộp, nên được coi là từ bỏ việc kháng cáo theo thông báo số 17266 ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại nhà cho thuê, bị đơn phản tố yêu cầu xác định tài sản tranh chấp là của ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị H2. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi nhà và quyền sở hữu nhà” được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là có căn cứ.

[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hùng S là bà Cao Thị C1, ông Nguyễn Quốc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Quách Đ1 có người đại diện theo ủy quyền là bà Lý Cẩm H1; bà Nguyễn Thị Kiều L; ông Phan Thanh T7; bà Nguyễn Thị Thanh L1; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người liên quan là ông Lê Đình P2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt và đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu phản tố là đúng quy định

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.2.1] Về quyền khởi kiện của ông Trần Văn N:

Căn cứ theo Giấy khai sinh ngày 20/02/1940 thì ông Trần Văn N là con của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2. Ngoài ra, không có tài liệu nào khác thể hiện ông Trần Văn B hay bà Trần Thị Đ2 có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác. Ông B và bà Đ2 không còn hàng thừa kế thứ nhất nào khác ngoài ông N. Ông B và bà Đ2 chết không để lại di chúc. Do đó, ông N có quyền khởi kiện đối với di sản của ông B và bà Đ2 theo Điều 186 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 30/4/1954 của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2, giấy khai sinh của ông Trần Văn N ngày 22/02/1940; căn cứ lời khai của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Trần Văn N, thì ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2 là vợ chồng và có một người con duy nhất là ông Trần Văn N. Ông Trần Văn B chết năm 1961, bà Trần Thị Đ2 chết năm 1999, ông Trần Văn N chết năm 2006. Nhà đất ông B, bà Đ2 cho gia đình ông Nguyễn Hùng S thuê từ năm 1959, sau năm 1975 gia đình ông S không trả tiền thuê nhà. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn N yêu cầu ông Nguyễn Hùng S và những người đang cư trú trong nhà đất số B N, phường T, Quận A phải trả lại nhà đất trên là có đủ tư cách khởi kiện.

Cấp sơ thẩm đã nhận định, bị đơn sinh sống tại nhà đất số B có nguồn gốc thuộc sở hữu của nguyên đơn, nhưng không chứng minh được việc đã nhận chuyển nhượng căn nhà này như đã trình bày. Nguyên đơn cho rằng cho bị đơn thuê nhà, nhưng không chứng minh được hợp đồng thuê nhà và quá trình thanh toán. Do đó, việc bị đơn sử dụng nhà đất số 28B được coi là cho ở nhờ. Căn cứ theo khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết 58/1998/NQ-UBNTQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 thì trong trường hợp không xác định được thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở thì bên cho mượn, cho ở nhờ được lấy lại nhà nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ trước ít nhất 06 tháng. Tại Bản tường trình ngày 05/12/2002, bị đơn trình bày đã nhận được thông báo đòi nhà của nguyên đơn thông qua dịch vụ bưu chính trước đó khoảng 03 tháng. Nguyên đơn nộp Thông báo lấy lại nhà đề ngày 26/6/2002 trước khi khởi kiện ngày 10/10/2002 thì nguyên đơn chưa đáp ứng đủ nghĩa vụ thông báo theo Nghị quyết nêu trên. Sau khi ông N chết ngày 10/3/2006, bà Trần Thị Xuân M1 là người đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N cũng có thông báo đòi nhà gởi đến ông Nguyễn Hùng S đề ngày 18/11/2006 và ngày 24/7/2007. Mặt khác, vụ án đã bị tạm đình chỉ kéo dài, các đồng thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn đều biết việc nguyên đơn đòi nhà, thời hạn đã kéo dài nhiều năm, nên thời hạn thông báo cho bị đơn đã được đảm bảo.

[2.2.2] Xét nguồn gốc và chủ sở hữu căn nhà B đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh:

Theo các tài liệu nguyên đơn nộp gồm: Biên bản số 106 ngày 26/8/1953 về việc xem xét đơn xin hợp pháp hóa những nơi xây dựng không có giấy phép; Các biên lai đóng thuế đất từ năm 1953 đến năm 1959, năm 1969 - 1976; Bản kê khai nhà cửa năm 1977 thể hiện chủ đất là bà Trần Thị Đ2, chủ nhà đang sử dụng là ông Nguyễn Hùng S; bản trích sao điền thổ số 911/TS-TTĐK ngày 13/5/2008; Văn bản số 13652/TTĐK –KT ngày 20/5/2008 của Trung tâm T10 và Đăng ký nhà đất về việc đối chiếu vị trí, xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất theo tài liệu lưu trữ; thì nhà đất số B đường N do ông B và bà Đ2 mua đất theo hình thức hợp thức hóa 106 của S1 ngày 26/8/1953, nộp đơn hợp thức hóa ngày 04/9/1953. Căn nhà này thuộc thửa 61, bằng khoán 616 S -T do Đô Thành S đứng bộ được chiết ra từ bằng khoán 167 (trước năm 1955).

Theo bị đơn, nhà đất số B đường N thuộc Bằng khoán 1121 và có nguồn gốc từ ông T3 và bà H2. Năm 1959, gia đình ông Nguyễn Hùng S có nhận sang lại nhà đất số 28B Nguyễn Hữu C2 từ ông Trần Văn B với số tiền lúc đó là 18.500 đồng tương đương 07 lượng vàng. Nhà chỉ có biên bản xin hợp thức hóa những nơi xây dựng không phép (Biên bản số 106 ngày 20-8-1953), việc giao kèo chỉ nói miệng. Ngoài ra, bị đơn còn xuất trình tờ giao kèo ngày 20/02/1962 cho rằng đất là của bà Lê Thị H2 không phải đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2. Tuy nhiên, tờ giao kèo này thể hiện nhà của bà Đ2, ông S ký bên thuê nhà.

[2.2.3] Xét yêu cầu đòi nhà của nguyên đơn:

Bà Trần Thị Xuân M1 đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Hùng S và những người đang sinh sống trong nhà đất số B N, phường T, Quận A phải trả lại nhà cho nguyên đơn ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Phía bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng đất không phải của ông B và bà Đ2 mà là của ông T3 và bà H2 (ông T3, bà H2 đều đã chết). Phần đất này nằm trong bằng khoán 1121 do ông T3 và bà H2 đứng bộ, nên chỉ có các con ông T3 bà H2 mới có quyền đòi lại tài sản. Qua xem xét các văn bản, tài liệu của cơ quan quản lý nhà đất tại địa phương thì bản đồ, bằng khoán mỗi thời kỳ có khác nhau, việc đo đạc không phải bằng máy nên khi áp ranh thì mỗi bản đồ có sự chênh lệch khác nhau. Vì vậy, cấp sơ thẩm căn cứ vào tài liệu chứng cứ thực tế để xem xét, đánh giá.

Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận thời điểm gia đình ông Nguyễn Hùng S bắt đầu sinh sống tại nhà đất số B từ năm 1959. Tuy nhiên, nguyên đơn cho rằng gia đình ông S thuê nhà và chỉ thanh toán tiền thuê nhà đến năm 1975. Có nhiều lần thương lượng việc ông S nhận sang nhượng lại căn nhà nhưng không thành. Trong quá trình sử dụng, ông S vẫn kê khai đây là đất của bà Đ2.

Vì vậy, có căn cứ xác định nhà đất tại địa chỉ số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu và là di sản thừa kế của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2 đã cho gia đình ông Nguyễn Hùng S ở nhờ, nên yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn về việc buộc bà Cao Thị C1, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hùng S và những người đang cư trú trong nhà đất trên phải giao trả lại nhà đất cho các đồng thừa kế của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Đ2 là có căn cứ.

[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu công nhận nhà đất số B N, phường T, Quận A cho bị đơn:

Ngày 18/3/2021, ngày 29/11/2021, ngày 17/5/2023, ngày 01/11/2023 bị đơn có đơn phản tố và đơn phản tố bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết: Xác định căn nhà B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc tờ bản đồ số 58, Bộ địa chính phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2003), nhằm thửa 1121, tờ bản đồ thứ 1 S-G (theo tài liệu cũ), nay thuộc phường T, Quận A có diện tích 21,6m²; Bất động sản số 1121 S - G chiết từ bằng khoán số 41, lập bộ ngày 27/01/1953, có diện tích 250m², do vợ chồng ông Trần Văn T3 và bà Lê Thị H2 đứng bộ. Đồng thời yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Đề nghị Tòa án xem xét Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 về việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật để công nhận quyền sở hữu cho ông Nguyễn Hùng S đối với nhà đất tại địa chỉ số B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đề nghị Tòa án xem xét buộc nguyên đơn bồi hoàn cho phía bị đơn hai khoản:

  • - Giá trị căn nhà B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã được xây dựng lại với số tiền 600.000.000 đồng.
  • - Công sức giữ gìn, bảo quản, làm tăng giá trị nhà đất từ năm 1959 đến nay với số tiền 600.000.000 đồng.

Tổng cộng hai khoản tiền là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng.

Ngày 02/6/2021, ngày 21/12/2021, ngày 13/11/2023 Tòa án đã thụ lý các yêu cầu phản tố này của bị đơn theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại khoản 4 Điều 72 thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Ngày 04/9/2024, Tòa án sơ thẩm mở phiên tòa lần thứ nhất và đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho các đương sự. Ngày 26/8/2024, bà Cao Thị C1 có đơn xin hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận và hội ý đã thống nhất chấp nhận đơn xin hoãn phiên tòa của bà C1. Tại Quyết định hoãn phiên tòa số 13207/2024/QĐ-HPT ngày 04/9/2024 đã ấn định ngày mở lại phiên tòa để xét xử lần 2 là ngày 26/9/2024. Trước khi mở phiên tòa lần 2, ngày 20/9/2024 bà Cao Thị C1 lại có đơn xin hoãn phiên tòa. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hùng S, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền của phía bị đơn và người liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phía bị đơn và người liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2, mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn xin hoãn phiên tòa của bà Cao C1 là có căn cứ. Do bị đơn không có đơn xin xử vắng mặt nên cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị đơn cũng không có ý kiến gì về nội dung này.

Do phía nguyên đơn đồng ý hỗ trợ cho phía bị đơn phần giá trị xây dựng theo Chứng thư thẩm định giá số 2583/03-21/HCN-SGTĐ ngày 20/4/2021 của Công ty TNHH T11 là 48.600.000 đồng; Công sức bảo quản gìn giữ tài sản là 10% trên giá trị quyền sử dụng đất là 219.440.000 đồng và hỗ trợ chi phí di dời là 331.960.000 đồng. Tổng cộng cả 3 khoản là 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng, nên cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này để đảm bảo quyền lợi cho bị đơn là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đưa ra các ý kiến để đề nghị hủy án sơ thẩm. Những nội dung này cấp sơ thẩm đã nhận định và xem xét. Đơn kháng cáo những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn cho rằng bà Lê Thị Hay L5 chủ đất, bà Đ2 không phải là chủ đất. Căn nhà 28A do ông L4 sử dụng có tính chất tương tự như nhà 28B Nguyễn Hữu C2 do gia đình chúng tôi đang sử dụng cũng đang bị kiện đòi nhà cho thuê. Hồ sơ vụ án thể hiện, bà H2 cũng kiện yêu cầu công nhận nhà đất 28A Nguyễn Hữu C2 và đã được giải quyết bằng bản án số 864 ngày 3/8/2007 không chấp nhận yêu cầu của bà H2, bản án đã có hiệu lực và thi hành án xong, nhà đất 28A đã được cấp giấy chứng nhận cho người kế thừa quyền nghĩa vụ của nguyên đơn là ông Trần Thiện Minh T.

Vụ án này thụ lý từ khi người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N3 và người bị kiện là ông Nguyễn Hùng S còn sống, đến thời điểm xét xử sơ thẩm đã kéo dài gần 21 năm, tài liệu chứng cứ đã thu thập hết các yêu cầu và cơ quan quản lý nhà đất tại địa phương đã cung cấp, nên nếu hủy án thì cũng không cung cấp được thêm các tài liệu chứng cứ khác. Vì vậy, việc đánh giá chứng cứ thuộc thẩm quyền của Tòa án. Bị đơn nại ra các các ý kiến khác chỉ kéo dài thời gian giải quyết vụ án trong khi bị đơn không có chứng cứ mua nhà như lời khai của ông S khi còn sống.

Do đó, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Hùng S, bà Cao Thị C1 và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, như đề nghị của Viện kiểm sát nhân cấp cao tại phiên tòa phúc thẩm. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng: Các đương sự không kháng cáo nội dung này nên cấp phúc thẩm không xem xét lại, đã thực hiện xong ở cấp sơ thẩm.

[5] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, Bà C1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Hùng S: Bà Cao Thị C1, bà Nguyễn Thị Kiều L, bà Nguyễn Thị Kim P1, ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị Thanh L1 và người liên quan ông Quách Đ1, bà Trần Thị T1.
  2. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 796/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Án phí phúc thẩm: Bà C1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự.
  4. Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 27/5/2025.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Cục THADS TP HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP, 216TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 539/2025/DS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi nhà

  • Số bản án: 539/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nhà
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger