|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 539/2024/DS-PT Ngày: 16 - 7- 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Cầu
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 228/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2171/2024/QĐPT ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1942; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc N, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17/6/2022). Vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bạch H, sinh năm 1952; địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Phạm Văn H1; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông H1: Bà Phạm Mỹ P, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 01/8/2023). Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Bà Nguyễn Thị T đã xuất nhập cảnh ra khỏi Việt Nam qua cửa khẩu Sân bay Quốc tế T12 03 lần. Lần xuất cảnh cuối cùng là ngày 02/9/2019, chưa có thông tin nhập cảnh). Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ; địa chỉ: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
-
Bà Đặng Thị G, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà G: Bà Hồ Thị Kim Đ1, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/7/2023). Có mặt.
- Bà Đặng Thị X1, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt.
- Bà Thái Thị T1; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1976. Vắng mặt.
-
Bà La Thị T2. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Khâu L; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
Do có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện ngày 17/6/2022 (BL số 01), nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày như sau:
Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1922 (đã chết) và bà Dương Thị H3, sinh năm 1922 (đã chết ngày 05/09/2005). Lúc sinh thời ông N1 và bà H3 sống chung với nhau, sinh được 06 người con gồm: ông Nguyễn Văn N2 (đã chết), ông Nguyễn Văn S (đã chết), ông Nguyễn Văn S1 (đã chết), ông Nguyễn Văn C (đã chết), bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Bạch H.
Khi bà H3 còn sống, có tạo lập được các tài sản sau: Thửa đất số 81, 73, 168, 70, 1323 cùng tờ bản đồ số 05, tổng diện tích được cấp là 15.980m², tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Trên thửa đất 70 có một căn nhà, bà H3 trước đây sinh sống với 03 đứa cháu. Hiện căn này ông H1 (cháu ngoại) đang quản lý sinh sống. Đối với thửa đất 81, diện tích 4.390m² ba Hai đã chuyển nhượng cho bà Quách Ngọc T3.
Vào năm 2005 bà H3 chết, bà H3 không để lại di chúc cho ai. Đến nay giữa bà X với bà Nguyễn Bạch H không thể phân chia với nhau.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với các thửa đất số 70, 73, 168, 1323, cùng tờ bản đồ số 05, tổng diện tích là 11.590m², tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cho bà Nguyễn Thị X và bà Nguyễn Thị Bạch H; bà X xin được hưởng 50% bằng hiện vật là đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng bà G chuyển nhượng thửa đất số 168 và 1323 chứ không phải trả đất lại cho chủ đất gốc, nhưng không có giấy tờ chứng minh việc bà G chuyển nhượng, nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà G. Nay bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của bà X, yêu cầu chia thừa kế theo diện tích đo đạc thực tế, phần bà X được chia bà X đồng ý tặng cho bà X1, việc tặng cho là hoàn toàn tự nguyện.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2022 (BL số 24), Tờ tường trình ngày 10/7/2023 (BL số 101), bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch H trình bày:
Cha bà tên Nguyễn Thành N1 (đã chết năm 1960) và mẹ bà tên Dương Thị H3 (chết năm 2005). Cha mẹ bà có 06 người con gồm: (1) ông Nguyễn Văn N2 (đã chết, là liệt sĩ), có vợ cũng đã chết và có 02 người con tên Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị T. (2) ông Nguyễn Văn S (đã chết, là liệt sĩ), có vợ cũng đã chết, không có con. (3) ông Nguyễn Văn S1 (đã chết, là liệt sĩ), không có vợ, con. (4) ông Nguyễn Văn C (đã chết, là liệt sĩ), không có vợ, con. (5) bà Nguyễn Thị X và (6) bà Nguyễn Thị Bạch H.
Từ xưa tới nay, bà rời khỏi địa phương không có thừa hưởng hay tranh chấp phần đất của mẹ bà để lại, khi mẹ bà còn sống có cho 03 đứa cháu gồm: Đặng Thị G1, Đặng Thị X1 và Phạm Văn H1 mỗi người một phần đất, bà G1 và bà X1 đã chuyển nhượng hết nhưng không ai phụng dưỡng mẹ bà, ông H1 là người trực tiếp phụng dưỡng mẹ bà cho đến khi chết và thờ cúng cho đến nay.
Từ xưa đến nay bà X chưa từng giáp mặt với bà để trao đổi các vấn đề liên quan đến phần đất đang tranh chấp mà lại nêu trong đơn kiện là do không thỏa thuận được.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết các phần đất mẹ bà đã cho các cháu thì giữ nguyên, phần đất còn lại thì chia thừa kế theo đúng quy định của pháp luật.
- Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 28/7/2023 (BL số 253 - 254), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị G trình bày:
Khoảng năm 1978, Nhà nước có chính sách chia ruộng đất cho tất cả người dân canh tác và xây nhà (đất của người nhiều chia cho người ít và người không có đất). Bà Dương Thị H3 (bà ngoại bà) là người có công với cách mạng (là bà mẹ Việt Nam anh hùng) có 05 người con liệt sĩ, hy sinh trong thời kỳ chiến tranh cứu nước nên Nhà nước cấp cho bà H3 phần đất có diện tích 15.980m². Bà H3 và bà xây một căn nhà để ở, đến năm 1984 bà H3 có cho cháu ngoại là ông Phạm Văn H1 (con của bà Nguyễn Thị Bạch H) về ở chung.
Năm 1992, bà lập gia đình có xây thêm một căn nhà cạnh bên nhà bà H3 và ông H1 tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05, diện tích là 1.315m². Đến năm 2008, bà đi Long An làm thuê, nhà cửa hiện nay bị hư hại không còn.
Năm 1993, Ủy ban nhân dân huyện T tiến hành đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho bà, bà H3 và ông H1 (bà đồng ý cho bà H3 đứng tên) phần đất Nhà nước cấp tại các thửa đất số 81, diện tích 4.390m²; thửa đất số 73, diện tích 4.000m²; thửa đất số 168, diện tích 3.475m²; thửa đất số 1323, diện tích 1.200m² và thửa đất số 70, diện tích 2.915m² (diện tích 1.600m2 nhà bà H3 và ông H1, diện tích 1.315m² nhà của bà).
Đến năm 1995, Nhà nước có chủ trương trả lại đất gốc, ai có tiền thì trả hoa lợi bằng tiền, ai có lúa thì trả bằng lúa cho chủ đất trước đó. Nếu không có tiền hoặc lúa thì trả đất lại. Cho nên bà đã nhận quyết định trả hoa lợi cho ông Lê Hữu Đ2 ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để được hưởng phần đất diện tích 0H13 là 1.300m², thuộc thửa đất số 70 với số tiền 728.000 đồng.
Đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 05 Nhà nước không thu hồi, cũng không trả hoa lợi và bà H3 cho bà thửa đất này; đến ngày 06/11/2012 bà đã cố cho ông Nguyễn Văn H2 đến hết năm 2014 với số vàng là 01 cây vàng 24k. Bà có kêu bà X1 chuộc lại diện tích đất nói trên để canh tác, nhưng bà X1 chuộc lại bằng 01 cây vàng 9999 bà không biết, nên bà chỉ đồng ý trả lại 01 cây vàng 24k.
Đối với thửa đất số 81, tờ bản đồ số 05, quá trình sử dụng đã chuyển nhượng cho người khác. Còn đối với thửa đất số 168 và 1323, tờ bản đồ số 05 do không có tiền trả hoa lợi, nên Nhà nước thu hồi trả lại cho chủ đất gốc, gia đình bà không có quản lý, sử dụng 02 thửa đất này.
Bà X và bà H có chồng trước thời điểm Nhà nước trang trãi đất đai, nên thời điểm trang trãi đất đai cấp các thửa đất trên thì chỉ có bà, bà H3 và ông H1.
Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.300m², thuộc thửa đất số 70 và phần đất có diện tích 2.600m², thuộc thửa đất số 73, cùng tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà. Bà đồng ý cho bà Đặng Thị X1 phần đất có diện tích 100m², thuộc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05 nêu trên.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bà G cho rằng thửa đất số 168 và 1323, tờ bản đồ số 05 do không có tiền trả hoa lợi, nên bà H3 đã trả đất lại cho chủ đất gốc, nên không có yêu cầu gì đối với hai thửa đất này. Nay giữ nguyên yêu cầu độc lập của bà G và bà đồng ý trả cho bà X1 01 cây vàng 24k do bà X1 chuộc đất từ ông H2 và bà T2.
- Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 27/8/2023 (BL số 223), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H1 trình bày:
Từ nhỏ đến khi cưới vợ, sinh con, ông sinh sống cùng bà ngoại tên Dương Thị H3, đến năm 2005 thì bà H3 bệnh chết.
Trong quá trình chung sống đến năm 2002, bà H3 viết “Giấy phân chia đất cho các cháu”, trong đó ông được phân chia phần đất có diện tích khoảng 1.600m2, thuộc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Vì hoàn cảnh khó khăn đến năm 2007 nên vợ chồng ông đã đi Bình Dương, ông vẫn thường xuyên về và canh tác đất của gia đình cho đến nay.
Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận quyền sử dụng đất diện tích khoảng 1.600m², thuộc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 5, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 157, Điều 158, khoản 1, 2 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 652 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ khoản 3 Điều 17, Điều 167, Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, b khoản 1, khoản 2, 3 Điều 24, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X về việc yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất có diện tích 2.578,3m², thuộc thửa đất số 70; phần đất có diện tích 2.600m², thuộc một phần thửa đất số 73; phần đất có diện tích 3.475m², thuộc thửa đất số 168 và phần đất có diện tích 1.200m², thuộc thửa đất số 1323, cùng tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X.
- Chia thừa kế và giao cho bà Đặng Thị X1 phần đất có diện tích 1.347,8m², thuộc một phần thửa đất số 73, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 73, tờ bản đồ số 05, có số đo 5,23m + 28,85m. Hướng tây giáp phần đất của ông Danh S2, có số đo 5,32m + 41,80m. Hướng nam giáp kênh thủy lợi, có số đo 30,78m + 5,08m. Hướng bắc giáp phần đất của ông Nguyễn Văn H2, có số đo 28,47m + 2,71m + 1,48m.
- Buộc bà Đặng Thị X1 có nghĩa vụ trả giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Nguyễn Thị Bạch H với số tiền 25.612.000 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng) và trả kỷ phần thừa kế cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T với số tiền 25.612.000 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng).
- Buộc bà Đặng Thị G có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị X1 10 chỉ vàng 24k, quy ra thành số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với với tiền và thời gian chậm thi hành án.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị G.
- Công nhận cho bà Đặng Thị G phần đất có diện tích 650m², thuộc một phần thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp đông giáp kênh bà M (kênh rẫy), có số đo 10,96m. Hướng tây giáp Huyện lộ 64, có số đo 9,02m. Hướng nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05 (ông Phạm Văn H1), có số đo 13,43m + 16,55m + 33,49m + 6,27m. Hướng bắc giáp phần đất còn lại của thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05 (bà Đặng Thị X1), có số đo 13,46m + 52,89m + 6,23m.
- Công nhận cho bà Đặng Thị G phần đất có diện tích 2.600m², thuộc một phần thửa đất số 73, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp phần đất của ông Nguyễn Văn H2 và bà La Thị T2, có số đo 5,24m + 30,10m. Hướng tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 73, tờ bản đồ số 05, có số đo 5,23m + 28,85m. Hướng nam giáp kênh thủy lợi, có số đo 85,32m. Hướng bắc giáp đất của ông Lương Thanh H4 và ông Lý S3, có số đo 21,76m + 14,99m + 4,83m + 3,5m + 4,01m + 12,42m + 7,04m + 4,74m + 33,62m.
- Buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà La Thị T2 cùng có nghĩa vụ giao trả lại toàn bộ thửa đất số 73, tờ bản đồ số 05 nêu trên cho bà Đặng Thị G và bà Đặng Thị X1 khi án có hiệu lực pháp luật.
Đính kèm Sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 24/8/2023 (BL số 281) và Sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 23/11/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08/12/2023, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà X, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà G.
Ngày 07/12/2023, bị đơn – bà Nguyễn Thị Bạch H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 07/12/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đặng Thị G có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị X1, giữ nguyên diện tích đất thổ cư đối với thửa đất số 70 tờ bản đồ số 5.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người kháng cáo – bà Nguyễn Thị X và người đại diện theo ủy quyền vắng mặt.
Người kháng cáo – bà Nguyễn Thị Bạch H trình bày:
Đề nghị xác minh lại thời điểm ký giấy ủy quyền cho bà N khởi kiện, bà Nguyễn Thị X còn đầy đủ năng lực hành vi dân sự không? Xác minh nguồn gốc các phần đất trạnh chấp. Yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp có diện tích thực tế 1.600m² (có thổ cư 150m²) thuộc thửa 70 cho ông Phạm Văn H1. Yêu cầu mời tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia phiên tòa. Yêu cầu xác minh lại phần đất ông Khâu L và bà T1 canh tác có nguồn gốc từ đâu, nếu do bà G tự ý sang bán thì phải hủy hợp đồng sang bán đưa phần đất này vào di sản thừa kế. Sau khi trừ lại diện tích bà H3 đã cho ông H1, bà G, bà X1 bao nhiêu thì chia thừa kế theo pháp luật. Phần của bà được hưởng bà sẽ cho lại ông H1, còn phần của con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T đã không nhận thì phải giao cho ông Phạm Văn H1 do ông H1 có công gìn giữ và phụng dưỡng bà Dương Thị H3.
Người kháng cáo – bà Đặng Thị G có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị X1, xem xét giữ nguyên diện tích thổ cư đối với thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Phạm Văn H1 trình bày:
Đề nghị xem xét lại việc phân chia thửa đất số 70, tờ bản đồ số 05 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Đề nghị Tòa án phân chia theo đúng ý chí của bà Dương Thị Hai t tại “Giấy phân chia đất cho các cháu” do bà Dương Thị H3 lập trước đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị G là có cơ sở. Tại Tòa án cấp phúc thẩm phía người kháng cáo không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Bạch H, ông Phạm Văn H1, bà Đặng Thị G giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Người kháng cáo – bà Nguyễn Thị X có người đại diện theo ủy quyền được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do xem như bà X từ bỏ việc kháng cáo. Do đó, HĐXX đình chỉ giải quyết phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị X theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bạch H và bà Đặng Thị G:
-
Về thủ tục tống đạt cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn Đ
- Bà Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị H5 để lại là 15.980m2 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận cụ Nguyễn Thành N1 và cụ Nguyễn Thị H5 có 06 người con gồm: ông Nguyễn Văn N2 (đã chết, có vợ cũng đã chết và có 02 người con tên Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị T), ông Nguyễn Văn S (đã chết, có vợ cũng đã chết, không có con), ông Nguyễn Văn S1 (đã chết, không có vợ, con), ông Nguyễn Văn C (đã chết, không có vợ, con), bà Nguyễn Thị X và bà Nguyễn Thị Bạch H. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Văn Đ vào bà Nguyễn Thị Thanh T4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015.
-
Quá trình xác minh địa chỉ của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị T4
Ngày 11/11/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ban hành Công văn số 249/2022/CV-TA gửi Công an xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có nội dung yêu cầu Công an xã T cung cấp thông tin: “1. Hộ bà Dương Thị H3, theo nhân khẩu quản lý có bao nhiêu người con, họ tên, năm sinh, địa chỉ cư trú của những người con?; Ông Nguyễn Văn N2, theo nhân khẩu quản lý là vợ, con ông N2 có bao nhiêu người, họ tên, năm sinh, địa chỉ cư trú của những người này? Riêng bà Nguyễn Thị T4 đề nghị cung cấp số chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị T4 để Tòa án có thông tin hỏi Cục quản lý xuất nhận cảnh” (BL 45).
Ngày 16/11/2022, Công an xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có Công văn số 249/CV-BCA gửi TAND huyện Thạnh Trị trả lời xác minh nội dung: Hộ bà Dương Thị H3 có 06 nhân khẩu gồm: Bà Dương Thị H3, ông Phạm Văn H1, bà Đặng Thị G2, bà Lý Thị H6, ông Phạm Minh T5, ông Phạm Chí T6; ông Nguyễn Văn N2 và bà Nguyễn Thị T4 không có trong cơ sở dữ liệu dân cư nên không cung cấp được. Vợ ông N2 chủ hộ không biết họ tên nên không thể tra cứu” (BL 44).
Ngày 14/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng lập Biên bản làm việc với ông Trịnh Hải D – trưởng ban N3, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có nội dung ông D trình bày: Ở ấp P trước đây có ông Nguyễn Văn N2, vợ là bà M1 có đăng ký cư trú ở ấp P, tuy nhiên hiện nay ông N2 và bà M1 đã chết; ông N2 có bao nhiêu người con thì ông D không rõ, nhưng ông D biết có ông Nguyễn Hoàng C1 cư trú ông Phú T7, ông C1 có mặt ở địa phương, Nguyễn Hoàng T8 đăng ký hộ khẩu P nhưng không có mặt ở địa phương, ông Nguyễn Hoàng K cư trú ấp P, có mặt ở địa phương, Nguyễn Thị T4, cư trú ấp P, hiện bà T4 theo ông D được biết bà T4 đã đi Hàn Quốc được khoảng hơn 2 năm (BL 65).
Cùng ngày 14/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng lập Biên bản làm việc với ông Nguyễn Hoàng K có nội dung ông K trình bày: Ông K không phải là con của ông N2, trước đây bà M1 với ông N2 có hai người con là ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim T9; hiện bà T9 đi Hàn Quốc, ông Đ đi làm thuê ở Bình Dương, ông K không rõ địa chỉ (BL 66).
Ngày 16/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ban hành Thông báo số 77/TB-TA yêu cầu nguyên đơn – bà Nguyễn Thị X cung cấp: “Ngày, tháng, năm sinh sống, chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân, địa chỉ nơi bàn Nguyễn Thị Kim T9, ông Nguyễn Văn Đ đang sinh sống (số nhà, đường phố, ấp (khóm), xã (phường), quận (huyện), tỉnh, thành phố” (BL 53). Ngày 19/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tống đạt Thông báo số 77/TB-TA cho bà Phạm Ngọc N - đại diện nguyên đơn (BL 54).
Ngày 19/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ban hành Công văn số 278/2022/CV-TA gửi Công an thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng yêu cầu Công an thị trấn P cung cấp thông tin: “Con của ông N2, bà M1 là ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị T9 có đăng ký cư trú tại ấp P, thị trấn P hay không, họ tên năm sinh của những người này? Nếu có thì hiện còn cư trú tại ấp P hay đã thay đổi địa chỉ cư trú đến địa chỉ nào? Riêng bà Nguyễn Thị T9 đề nghị cung cấp số chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị T9 để Tòa án có thông tin hỏi Cục Q1” (BL 60).
Ngày 10/01/2023, Công an thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng gửi TAND huyện Thạnh Trị trả lời xác minh như sau: “Đương sự Nguyễn Văn Đ hiện nay không có đăng ký thường trú tại địa phương, còn đăng ký thường trú tại đâu thì không nắm rõ; Đương sự Nguyễn Thị T9, sinh năm 1964, số CMND [...], CCCD 0941640077308, hiện đăng ký thường trú tại ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, chủ hộ tại nơi đăng ký thường trú Châu Hoàng T10, sinh ngày 10/6/1962, số HSHK 31756-001012, mối quan hệ: Vợ, hiện nay nguyên hộ gia đình của đương sự Nguyễn Thị T9 hiện không có mặt tại địa phương” (BL 59).
Ngày 18/01/2023, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ban hành Công văn số 04/CV-TA gửi Cục Q1 tại TP . về việc yêu cầu cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của bà Nguyễn Thị T9 (BL 58).
Ngày 30/01/2023, Cục Q1 có Công văn số 273/QLXNC-P5 gửi TAND huyện Thạnh Trị trả lời xác minh như sau: Bà Nguyễn Thanh T4 đã xuất cảnh qua sân bay quốc tế T ngày 02/9/2019 hiện chưa có thông tin nhập cảnh lại (BL 55-56).
Ngày 13/02/2023, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ban hành QĐ chuyển hồ sơ vụ án dân sự số 02/2023/QĐ-ST-DS chuyển hồ sơ cho TAND tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thẩm quyền (BL 80).
-
Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị T9
Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị T9 tại ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (BL 74, 77, 78, 90), niêm yết tại UBND thị trấn P, huyện T (BL 78, 91) và niêm yết tại trụ sở TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (BL 79, 92). TAND tỉnh Sóc Trăng tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị T9 theo địa chỉ tại ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng bằng hình thức tống đạt qua người thứ ba là các ông, bà Nguyễn Văn P1, Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Thị C2, nhận thay (BL 99, 215, 207, 246, 247, 346, 347, 178, 179, 270, 271, 308, 333, 334, 359, 360) và tiến hành niêm yết công khai tại ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (BL 387, 397, 445), niêm yết tại UBND thị trấn P, huyện T (BL 388, 396, 444) và niêm yết tại trụ sở TAND tỉnh Sóc Trăng (BL 386, 395, 443).
-
Đối với ông Nguyễn Văn Đ
Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng:
“Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo.
2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
3. Niêm yết công khai.
4. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
5. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức khác theo quy định tại Chương XXXVIII của Bộ luật này”.
Quy định tại Khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “5. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án”.
Và theo quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự: “1. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo”.
Xét thấy, theo kết quả xác minh của Công an thị trấn P, tỉnh Sóc Trăng thì ông Nguyễn Văn Đ không có đăng ký thường trú tại địa phương, theo lời trình bày ông Nguyễn Hoàng K (em cùng mẹ khác cha với ông Nguyễn Văn Đ) thì ông Đ sinh sống ở tỉnh Bình Dương, ông K không rõ địa chỉ. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đ theo địa chỉ ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng bằng hình thức tống đạt thông qua người thứ ba và niêm yết tại ấp P, thị trấn P, tại UBND thị trấn P là không đảm bảo ông Đ nhận được, biết được các văn bản tố tụng mà Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt. Như vậy, việc tống đạt cho ông Nguyễn Văn Đ phải thực hiện bằng phương thức thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại khoản 4 Điều 173 và Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mới đảm bảo ông Đ nhận được tông tin về các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt. Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc tống đạt cho ông Đ bằng phương thức thông qua người thứ ba và niêm yết công khai là không đảm bảo tính hợp lệ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-
Đối với bà Nguyễn Thị T9
Căn cứ quy định tại Điều 473 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về cầu cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài:
“1. Người khởi kiện, người yêu cầu phải ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự đó.
Trường hợp không ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ sung trong thời hạn do Tòa án ấn định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
2. Trường hợp không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trả lời cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài hoặc sau 06 tháng mà không có trả lời thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.”
Ngày 16/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ban hành Thông báo số 77/TB-TA yêu cầu nguyên đơn – bà Nguyễn Thị X cung cấp: “Ngày, tháng, năm sinh sống, chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân, địa chỉ nơi bàn Nguyễn Thị Kim T9, ông Nguyễn Văn Đ đang sinh sống (số nhà, đường phố, ấp (khóm), xã (phường), quận (huyện), tỉnh, thành phố” và ấn định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo phải có nghĩa vụ cung cấp đại chỉ cho Tòa án (BL 53). Ngày 19/12/2022, TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tống đạt Thông báo số 77/TB-TA cho bà Phạm Ngọc N - đại diện nguyên đơn (BL 54).
Tuy nhiên, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị X không cung cấp được địa chỉ của bà Nguyễn Thị T9 theo yêu cầu của Tòa án nhưng phía nguyên đơn cũng không có yêu cầu Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định tại khoản 2 Điều 473 nêu trên. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự mà tiếp tục giải quyết vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng cho bà T11 bằng phương thức tống đạt thông qua người thứ ba và niêm yết công khai tại ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Về việc đưa người tham gia tố tụng
Tại Biên bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/6/2023 thể hiện tại phần đất tranh chấp thửa đất số 70 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp T, xã T do bà Đặng Thị G, ông Phạm Văn H1, bà Lý Thị H6 quản lý, sử dụng. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà X về việc chia thừa kế đối với thửa đất số 70 là có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà Lý Thị H6 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Lý Thị H6 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 là đưa thiếu người tham gia tố tụng.
-
Về thủ tục trả lại Đơn yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn H1
Ngày 01/8/2023, ông Phạm Văn H1 ủy quyền cho bà Phạm Thị Mỹ P2 có địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng thay mặt ông H1 tham gia tố tụng, Hợp đồng được UBND xã T chứng thực số 243 (BL 224).
Ngày 22/8/2023, TAND tỉnh Sóc Trăng ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 1616/TB-TA gửi bà Phạm Mỹ P2 địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn H1) có nội dung thông báo cho ông H1 nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo (BL 221). Tuy nhiên, TAND tỉnh Sóc Trăng không tống đạt Thông báo đóng tiền tạm ứng án phí cho bà Phạm Mỹ P2 mà lại tống đạt ông Phạm Văn H1 tại đại chỉ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng do ông Phạm Minh T5 nhận thay (BL 222) là không đúng quy định pháp luật.
Do đó ngày 15/9/2023, TAND tỉnh Sóc Trăng ban hành Thông báo về việc trả lại đơn yêu cầu độc lập số 1813/TB-TA (BL 219) trả lại đơn yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn H1 với lý do ông Phạm Văn H1 không nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong thời hạn quy định là không có căn cứ.
-
Về thủ tục lập Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/8/2023 của TAND tỉnh Sóc Trăng
Ngày 14/8/2023, TAND tỉnh Sóc Trăng ban hành QĐ xem xét, thẩm định tại chỗ số 321/2023/QĐ-XXTĐTC quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ đối với hiện trạng phần đất tranh chấp thuộc các thửa 73, 70 cùng tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 24/8/2023 (BL 296). Cùng ngày 14/8/2023, TAND tỉnh Sóc Trăng ban hành Thông báo về việc xem xét, thẩm định tại chỗ số 1174/TB-TA thông báo các đương sự có mặt tại phần đất tranh chấp vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 24/8/2023 để chứng kiến và trình bày ý kiến (BL 299).
Ngày 18/8/2023, TAND tỉnh Sóc Trăng tống đạt quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ số 321/2023/QĐ-XXTĐTC và Thông báo về việc xem xét, thẩm định tại chỗ số 1174/TB-TA cho ông Phạm Văn H1 (do ông Lý Q nhận thay). Tuy nhiên, trước đó vào ngày 01/8/2023, ông Phạm Văn H1 ủy quyền cho bà Phạm Thị Mỹ P2 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt cho ông H1 mà không tống đạt cho bà P2 là không đúng quy định.
Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24/8/2023 (lần đầu) vắng mặt bà P2, ông H1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không hoãn buổi làm việc mà vẫn tiến hành lập Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ vắng mặt bà P2, ông H1 là không đúng quy định. Mặt khác, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24/8/2023 được lập vắng mặt bà P2, ông H1 nên ông H1, bà P2 không thể chỉ ranh đo vẽ nhưng Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn có nội dung ghi nhận: “Phần đất theo yêu cầu độc lập của ông H1, một phần thửa 70, tờ bản đồ số 05, có diện tích: 1215,7m2; có số đo tứ cận như sau: + H: giáp kênh bà 1 (kênh rãy), có số đo: 22,74m; + Hướng Tây: giáp huyện lộ 64 có số đo: 12,90m; + Hướng Nam: giáp phần đất của bà Thái Thị T1 có số đo: 1,61m + 11,89m + 57,45m + 5,71 + 0,82m; + Hướng Bắc giáp lối đi vào nền mộ và một phần đất thửa 70 theo yêu cầu độc lập của bà G, có số đo: 13,42m + 15,26m + 2,24m + 5,1m + 3,6m + 5,1m + 0,76m + 33,49m + 6,27m” là không có căn cứ. Sở đồ hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH H7 cùng ngày 24/8/2019 (BL 280) thể hiện 1 phần thửa 70 theo yêu cầu độc lập của ông H1 có diện tích 1.215,7m² là không có căn cứ.
- Do cần xem xét thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Để giải quyết vụ án triệt để, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và để đảm bảo hai cấp xét xử cần phải hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về cấp sơ thẩm để xét xử lại.
- Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
- Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G, hủy bản án sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
-
Về thủ tục tống đạt cho bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn Đ
-
Về án phí:
- Do kháng cáo bị đình chỉ nên bà Nguyễn Thị X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên bà X thuộc trường hợp cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí nên bà X được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Do hủy bản án sơ thẩm nên bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Do hủy về tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 296; khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị X.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G. Hủy bản án sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
-
Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Đặng Thị G 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002785 ngày 29/12/2023 (do bà Hồ Thị Kim Đ1 đóng thay) của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Đức Toàn |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
||
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Lê Thúy Cầu |
Nguyễn Thị Thanh |
Vũ Đức Toàn |
Bản án số 539/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 539/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bạch H, bà Đặng Thị G. Hủy bản án sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
