Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 539/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Ngọc Anh

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh

Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông H Huy Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 790/2023/TLST-HS, ngày 16/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4993/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Minh H; Sinh ngày: 14/12/1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 212B/D20A đường NT, phường NCT, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trần Minh H và bà: Phạm Thanh V; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/7/2018, bị Ủy ban nhân dân phường NCT đưa đi cai nghiện tại cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2, đến ngày 24/7/2018, Ủy ban nhân dân phường NCT ra Quyết định về việc hủy bỏ đưa người nghiện vào cơ sở xã hội đối với Trần Minh H.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2022 - Có mặt.

Người bào chữa:

Bà Nguyễn Ngọc Tr là Luật sư Văn phòng luật sư Hồ Trung Hiếu thuộc Đoàn luật sư Tp.Hồ Chí Minh, bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Trần Minh H – Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Phạm Thị Kim Ng; Sinh năm: 1974; Nơi cư trú: D20A NT, phường NCT, Quận X, Tp.Hồ Chí Minh – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, tại trước nhà số 327 đường PNL, phường PNL, Quận X, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận X tuần tra, phát hiện Trần Minh H có biểu hiện nghi vấn tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi quần bên phải phía trước H đang mặc có một vỏ bao thuốc lá hiệu JET, bên trong có một gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 3,9848 gam loại Ketamine và 01 gói chứa 05 viên nén màu xám kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,0206 gam loại MDMA, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Minh H tại nhà số 212B/D20A NT, phường NCT, Quận X, phát hiện thu giữ:

Một hộp giấy có in chữ “Như Lan”, bên trong có 09 gói nylon chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 16,0215 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon, bên trong có: 08 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 5,5825 gam, loại Ketamine và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0068 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,1548 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon, bên trong có 12 gói nylon chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 6.8608 gam, loại Ketamine: 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2.4562 gam, loại MDMA; 01 gói nylon chứa 91 viên nén màu xám, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 37,1009 gam: loại MDMA, một số gói nylon chưa qua sử dụng và một cân điện tử.

Tất cả ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 6377 KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL 69)

Qua điều tra, Trần Minh H khai nhận: Bản thân nghiện ma túy và biết Trần Quang M (tên gọi khác Bo) chỗ ở 159/25 Phạm Văn H, E, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh có bán ma túy. Từ tháng 7/2022, H hỏi M xin đi giao ma túy để nhận tiền công thì M đồng ý và trả công cho H mỗi lần đi giao từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Từ tháng 7-2022 cho đến khi bị bắt, H đã nhận giao ma túy cho M nhiều lần (không nhớ cụ thể) và hưởng tiền công. Sau khi giao ma túy xong người mua ma túy sẽ trả tiền cho M hoặc cho H, nếu trả cho H thì H sẽ trả tiền công, rồi giao lại tiền cho M. Ngày 28/01/2022, M đưa cho H 01 hộp giấy có chữ “Như Lan” bên trong có 22 gói nylon chứa ma túy Ketamine dạng bột, 14 gói nylon chứa ma túy Ketamine dạng tinh thể, 02 gói nylon chứa 102 viên ma túy thuốc lắc và 01 số gói nylon chưa qua sử dụng, 01 cân điện tử. H nhận ma túy xong đem về chỗ ở tại số 212B/D20A đường NT, phường NCT, Quận X để khi có khách mua ma túy M sẽ bảo H đem bán. Ngày 02/11/2022, M

bảo H đem giao 05 viên ma túy loại thuốc lắc và 01 gói ma túy loại Ketamine cho người mua, khi H đang trên đường đi giao ma túy thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang như đã nêu trên.

Đối với Trần Quang M chỉ có duy nhất lời khai của Trần M H, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nơi ở tại số 159/25 Phạm Văn H, Phường e, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh và nơi thường trú của M tại khu phố 5, Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thể hiện M không còn cư trú tại đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với Trần Quang M khi có cơ sở sẽ xử lý sau.

Vật chứng vụ án: Đã được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 76 PNK 2023 ngày 13/3/2023 của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng PC10; gồm có:

  • - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 6377G1/22 có chữ ký giám định viên Trần Đình Hải, điều tra viên Phan Đức Hòa bên trong là mẫu vật còn lại sau giảm định.
  • - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 6377G2/22 có chữ ký giám định viên Trần Đình Hải, điều tra viên Phan Đức Hòa bên trong là mẫu vật còn lại sau giảm định.
  • - 02 điện thoại di động hiệu Iphone
  • - 01 hộp giấy in chữ Như Lan, 01 số gói nylon chưa qua sử dụng, 01 cân điện tử.
  • - 01 xe máy biển số 59F1-332.76 kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi xe do ông Phạm Cừ là dượng của Trần Minh H đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 02/11/2022, bà Phạm Thị Kim Ng vợ ông Cừ cho H mượn đi công việc, Trân Minh H sử dụng xe vào việc mua bán ma túy bà Ngân không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập biên bản tạm giữ xe chuyển kho vật chứng thuộc Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh chờ xử lý theo quy định (BL 148).

Tại bản Cáo trạng số 508/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 28/9/2023, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm h khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh H từ 16 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất các biện pháp xử lý vật chứng.

- Bị cáo Trần Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt nêu trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa như sau:

Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy”, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo Trần Minh H. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ nguyên là giáo viên nay đã già yếu. Bị cáo là con một trong gia đình, được nuông chiều quá mức từ đó dẫn đến phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề xuất, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: Về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ mà Luật sư nêu ra là thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị. Về việc miễn hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Minh H tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định:

Trần Minh H là người nghiện ma túy, biết Trần Quang M chỗ ở 159/25 Phạm Văn H, Phường e, quận TB, có bán ma túy nên H xin M đi giao ma túy để nhận tiền công thì M đồng ý và thỏa thuận trả công cho H mỗi lần đi giao ma túy từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Ngày 02/11/2022, M kêu H đem giao 05 viên ma túy loại thuốc lắc và 01 gói ma túy loại Ketamine cho người mua tại Quận X. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe mô tô đem ma túy đi giao đến trước nhà số 327 đường PNL, phường PNL, Quận X, thì bị Công an Quận X đi tuần tra phát hiện bắt quả tang H đang cất giữ ma túy để bán, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước H đang mặc có một vỏ bao thuốc lá hiệu JET, bên trong có một gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 3,9848 gam loại Ketamine và 01 gói chứa 05 viên nén màu xám kết quả giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,0206 gam loại MDMA.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Minh H tại nhà số 212B/D20A NT, phường NCT, Quận X, Công an thu giữ: 31,6264 gam ma túy loại Ketamine; 39,5571 gam ma túy loại MDMA và một số gói nylon chưa qua sử dụng và một cân điện tử. H khai là của M đưa cho H cất giữ khi nào có người hỏi mua M sẽ kêu H đem đi giao.

Tất cả ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giảm định số 6377 KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy bị cáo Trần Minh H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy có khối lượng 35,6112g ma túy loại Ketamine và 41,5777g ma túy loại MDMA, nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh H là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, mặt khác nó còn là nguyên nhân làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ ma túy là một loại tệ nạn xã hội, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Về nhân thân:

Bị cáo Trần Minh H là người có nhân thân xấu. Ngày 06/7/2018, bị Ủy ban nhân dân phường NCT đưa đi cai nghiện tại cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2, đến ngày 24/7/2018, Ủy ban nhân dân phường NCT ra Quyết định về việc hủy bỏ đưa người nghiện vào cơ sở xã hội đối với Trần Minh H.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Trần Minh H, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét quan điểm của Luật sư và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về tội danh, khung hình phạt cũng như các tình tiết giảm nhẹ Luật sư và đại diện Viện kiểm sát đã nêu, là thống nhất với nhau và có cơ sở, nên chấp nhận. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Trần Minh H theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung:

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh H, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, phạt bị cáo một khoản tiền, nộp ngân sách Nhà nước. Không có cơ sở để chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[3] Đối với đối tượng tên Trần Quang M, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nơi thường trú và chỗ ở của M tại các địa chỉ: nhà số 159/25 Phạm Văn H, Phường e, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh; khu phố 5, Dương Đông,

thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và nhà số 49A, tổ 21, ấp Phú Mỹ, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh thể hiện Minh không còn cư trú tại các địa chỉ nêu trên, nên cơ quan điều tra chưa làm việc được với M. Xác minh chủ thuê bao của số điện thoại 0934.626.xxx (H khai là số điện thoại của M dùng liên lạc với H để mua bán ma túy), kết quả thể hiện chủ thuê bao có tên là Đào Xuân Trường, cư trú tại xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, không liên quan đến việc mua bán ma túy với H. Ngoài lời khai của Trần Minh H ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác về việc M đưa ma túy cho H đi bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với Trần Quang M khi có cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với những lần mua bán ma túy trước đó, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu chứng cứ nào chứng minh, nên cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.

[4] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm có:

  • - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 6377G1/22 có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình Hải, Điều tra viên Phan Đức Hòa bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 6377G2/22 có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình Hải, Điều tra viên Phan Đức Hòa bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định. Là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 02 điện thoại di động hiệu Iphone, thu giữ của Trần Minh H, H khai là của bị cáo, có sử dụng vào việc mua bán ma túy; 01 cân điện tử, H khai do M đưa để cân ma túy. Đây là các công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (một) hộp giấy in chữ “Như Lan”, một số gói nylon chưa qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe máy biển số 59F1-332.76 kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi, xe do ông Phạm Cừ là chồng của bà Phạm Thị Kim Ng (là dì ruột của Trần Minh H) đứng tên chủ sở hữu. Ông Cừ đã mất năm 2015, nên chiếc xe trên do bà Ngân quản lý sử dụng. Ngày 02/11/2022, bà Ngân cho H mượn xe đi công việc, H sử dụng xe vào việc mua bán ma túy bà Ngân không biết, nên trả lại xe cho bà Phạm Thị Kim Ng.

[5] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh H 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/11/2022.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Minh H số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[2] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 6377G1/22 có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình Hải, Điều tra viên Phan Đức Hòa bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 6377G2/22 có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình Hải, Điều tra viên Phan Đức Hòa bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 (một) hộp giấy in chữ “Như Lan”, Một số gói nylon chưa qua sử dụng.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (không sim, Imei khay sim: ... 716672, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (Model A1530, Imei: ... 749075, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
  • - Trả cho bà Phạm Thị Kim Ng 01 xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu HONDA, số loại: SH150I, biển số: 59F1-332.76, số khung: RLHKF1415DY003368, số máy: KF14E-0003409 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

(Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/034 ngày 30/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

[3] Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Minh H nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND Cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục THA DS; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (2)
  • - Luật sư; (1)
  • - Người có QL&NV liên quan; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - THA HS; (2)
  • - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Công Huân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 539/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 539/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger