Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 538/2024/HS-PT

Ngày: 08 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 2 năm 2024 đối với bị cáo Lê Minh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Lê Minh T, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1969 tại thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm F, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T1 và bà Nguyễn Minh C; có vợ là Triệu Mỹ P (đã ly hôn) và 01 người con (sinh năm 2008); tiền án: Không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 5 năm 2023 cho đến nay.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Quỳnh A, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

1

Ngoài ra, vụ án còn có bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2021, Lê Minh T và bà Huỳnh Thị Thanh T2 quen biết nhau qua mạng xã hội và nảy sinh tình cảm nam nữ. Do bà T2 đang sinh sống bên Mỹ nên thuê T quản lý 02 khu vườn tại ấp P và ấp P thuộc xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang với tổng diện tích khoảng 12.000 m2. Sau đó, trong thời giam từ ngày 03 tháng 01 năm 2023 đến ngày 26 tháng 4 năm 2023, bà T2 gửi tiền đô la M về Việt Nam nhiều lần cho T nhận với tổng số tiền là 71.800 USD để nhờ T giữ hộ và thỏa thuận T không được sử dụng số tiền gửi giữ nếu chưa có sự đồng ý của bà T2.

Sau khi nhận tiền gửi giữ, T sử dụng 19.800 USD trả tiền nhân công, mua phân bón, giống cây trồng và đặt cọc tiền mua đất theo yêu cầu của bà T2; tự ý sử dụng 47.000 USD vào mục đích mua vé số và tiêu xài cá nhân khi chưa được sự đồng ý của bà T2 và không có khả năng trả lại; còn lại 5.000 USD T cất giữ vào vali màu đỏ.

Ngày 29 tháng 4 năm 2023, bà T2 từ Mỹ về Việt Nam. Đến khoảng 18 giờ ngày 30 tháng 4 năm 2023, bà T2 hỏi T “Anh coi kiểm tra đếm lại tiền trả lại cho em”, T trả lời “Để mai đi em ơi, tiền anh cất rồi”.

Đến khoảng 08 giờ 10 phút ngày 01 tháng 5 năm 2023, sau khi đi làm vườn về, T nhìn thấy bà T2 đang nằm ngủ trên võng phía sau nhà. Lúc này, do số tiền bà T2 gửi về T đã tiêu xài hết 47.000 USD và không có khả năng trả lại nên T nghĩ cách chiếm đoạt số tiền bà T2 đã gửi cho T mà không phải trả lại. T đi vào phòng ngủ của bà T2 lấy số tiền 5.000 USD còn lại để trong va li màu đỏ đem bỏ vào trong ba lô bằng vải, màu đen xám của bà T2 để dưới nền nhà (T biết bên trong ba lô của bà T2 có tài sản và tiền đô la M nhưng không xác định cụ thể bao nhiêu) rồi mang ba lô chạy đến khu vực bờ sông trước nhà cất giấu trong bụi cỏ. Sau đó, T quay về thì thấy bà T2 đã thức, T kêu bà T2 vào phòng thay đồ để cùng nhau đi công việc rồi T đi sang bên hông nhà dùng tay bẻ cong hàng rào lưới B40 để tạo hiện trường giả vụ trộm. Khi bà T2 vào phòng thay đồ thì phát hiện toàn bộ tài sản bị mất nên trình báo Cơ quan Công an. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T đến cơ quan điều tra đầu thú hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 (một) cái va li màu đỏ; 01 (một) cái ba lô bằng vải, màu đen xám, bên trong có: 01 (một) thẻ nhựa loại Visa số 4815820198881078; 01 (một) thẻ nhựa loại Visa số 4342562939909030; 01 (một)

2

thẻ nhựa loại Visa số 4100390431456447; 01 (một) thẻ nhựa loại có chữ DRIVER LICENSE, trên thẻ có số 08101973; 01 (một) passport số [...] có chữ USA; 01 (một) phong bì có chữ Thank you nền màu trắng viền màu vàng; 01 (một) cái điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13Pro, màu đen, số Imei: 352203773484740; Tiền Việt Nam: 12.463.000 đồng (mười hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền đô la Mỹ, mỗi tờ có mệnh giá 20 USD (hai mươi đô la Mỹ); 119 (một trăm mười chín) tờ tiền đô la Mỹ, mỗi tờ có mệnh giá 100 USD (một trăm đô la Mỹ). Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Huỳnh Thị Thanh T2 các tài sản gồm: 01 (một) thẻ nhựa loại Visa số 4815820198881078; 01 (một) thẻ nhựa loại Visa số 4342562939909030; 01 (một) thẻ nhựa loại Visa số 4100390431456447; 01 (một) thẻ nhựa loại có chữ DRIVER LICENSE, trên thẻ có số 08101973; 01 (một) passport số [...] có chữ USA; 01 (một) phong bì có chữ Thank you nền màu trắng viền màu vàng; 01 (một) cái điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13Pro, màu đen, số Imei: 352203773484740; Tiền Việt Nam: 12.463.000 đồng (mười hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền đô la Mỹ, mỗi tờ có mệnh giá 20 USD (hai mươi đô la Mỹ); 119 (một trăm mười chín) tờ tiền đô la Mỹ, mỗi tờ có mệnh giá 100 USD (một trăm đô la Mỹ). Các vật chứng còn lại là 01 (một) cái va li màu đỏ và 01 (một) cái ba lô bằng vải, màu đen xám đã được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang quản lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 23/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân tỉnh H kết luận:

  1. Thời điểm định giá ngày 01/5/2023: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Pro, dung lượng 256GB, màu đen, số Imei: 352203773484740 là 26.060.000 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng);
  2. Thời điểm định giá 01/5/2023: 11.940USD (Mười một nghìn chín trăm bốn mươi đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.639 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng), thành tiền là 282.249.660 đồng (Hai trăm tám mươi hai triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm sáu mươi đồng);
  3. Thời điểm định giá 04/01/2023: 1.500USD (Một nghìn năm trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.603 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm lẻ ba đồng), thành tiền là 35.404.500 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm lẻ bốn nghìn năm trăm đồng);
  4. Thời điểm định giá 15/02/2023: 2.500USD (Hai nghìn năm trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.631 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi

3

mốt đồng), thành tiền là 59.077.500 đồng (Năm mươi chín triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng);

  1. Thời điểm định giá 23/02/2023: 1.500USD (Một nghìn năm trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.641 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm bốn mươi mốt đồng), thành tiền là 35.461.500 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm đồng);
  2. Thời điểm định giá 07/3/2023: 1.500USD (Một nghìn năm trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.633 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi ba đồng), thành tiền là 35.449.500 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm đồng);
  3. Thời điểm định giá 11/3/2023: 1.500USD (Một nghìn năm trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.639 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng), thành tiền là 35.458.500 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn năm trăm đồng);
  4. Thời điểm định giá 17/3/2023: 9.700USD (Chín nghìn bảy trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.620 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm hai mươi đồng), thành tiền là 229.114.000 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu một trăm mười bốn nghìn đồng);
  5. Thời điểm định giá 23/3/2023: 1.900USD (Một nghìn chín trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.615 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm mười lăm đồng), thành tiền là 44.868.500 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn năm trăm đồng);
  6. Thời điểm định giá 29/3/2023: 1.600USD (Một nghìn sáu trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.603 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm lẻ ba đồng), thành tiền là 37.764.800 đồng (Ba mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm đồng);
  7. Thời điểm định giá 09/4/2023: 10.600USD (Mười nghìn sáu trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.603 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm lẻ ba đồng), thành tiền là 250.191.800 đồng (Hai trăm năm mươi triệu một trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm đồng);
  8. Thời điểm định giá 13/4/2023: 15.500USD (Mười lăm nghìn năm trăm đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.606 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm lẻ sáu đồng), thành tiền là 365.893.000 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm triệu tám trăm chín mươi nghìn ba nghìn đồng);
  9. Thời điểm định giá 19/4/2023: 9.000USD (Chín nghìn đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.626 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm hai mươi sáu

4

đồng), thành tiền là 212.634.000 đồng (Hai trăm mười hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng);

  1. Thời điểm định giá 25/4/2023: 12.000USD (Mười hai nghìn đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.638 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng), thành tiền là 283.656.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng);
  2. Thời điểm định giá 27/4/2023: 3.000USD (Ba nghìn đô la Mỹ), đơn giá (VND/1USD) là 23.639 đồng (Hai mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng), thành tiền là 70.917.000 đồng (Bảy mươi triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng).

Như vậy, tổng giá trị tài sản T trộm cắp là 202.577.660 (hai trăm lẻ hai triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi) đồng, gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Pro, dung lượng 256GB, màu đen trị giá 26.060.000 đồng, tiền Việt Nam 12.463.000 đồng và 6.940 USD trị giá 164.054.660 đồng; tổng số tiền T lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là 52.000 USD trị giá 1.227.837.700 đồng (Một tỷ hai trăm hai mươi bảy triệu tám trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm đồng).

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, ông Lê Bá T3 (em ruột của T) khắc phục hậu quả số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho bà T2, bà T2 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSHG-P1 ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, đã truy tố Lê Minh T về các tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại bản án số 01/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang quyết định:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, Điều 38, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
    • - Căn cứ khoản 4 Điều 175, Điều 38, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

5

- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo phải chấp hành là 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 31/01/2024 bị cáo Lê Minh T kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và xin định giá lại tài sản.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo T thay đổi yêu cầu kháng cáo, bị cáo kêu oan; chỉ thừa nhận chiếm đoạt của bị hại khoản 43.000 USD; Quá trình điều tra bị cáo bị điều tra viên dụ cung.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị xem xét lại số tiền 5000 USD, vì số tiền này là của bị cáo chứ không phải của bị hại; việc bị cáo kêu oan là do nhận thức, vì bị cáo và bị hại có mối quan hệ tình cảm; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như Bản án sơ thẩm đã xác định nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi kháng cáo, kêu oan; Thấy rằng quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng, bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; Việc bị cáo cho rằng bị dụ cung nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Do đó, án sơ thẩm xử phạt bị cáo T 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo yêu cầu xem xét lại số tiền và giảm hình phạt cho bị cáo, thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Minh T kêu oan, không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã xét xử. Do quá trình điều tra bị cáo bị điều tra viên dụ cung theo hướng nhận tội, ký các bản cung, thực tế bị cáo chỉ chiếm đoạt của bị hại khoản 43.000 USD. Thấy rằng, việc bị cáo thừa nhận chỉ chiếm đoạt bị hại số tiền 43.000 USD chứ không phải 52.000

6

USD như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử, là đã cấu thành tội phạm, không oan như bị cáo trình bày. Bị cáo cho rằng bị điều tra viên dụ cung, nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Do đó, việc bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội trong suốt quá trình điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị hại, các biên bản đối chất và các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ.

Có cơ sở xác định: Do bị cáo và bị hại Huỳnh Thị Thanh T2 có quan hệ tình cảm nên trong khoảng thời gian từ ngày 03 tháng 01 năm 2023 đến ngày 26 tháng 4 năm 2023, bị hại đã tin tưởng gửi tiền đô la Mỹ về Việt Nam nhiều lần cho bị cáo nhận giữ hộ tổng cộng là 71.800 USD. Sau khi nhận tiền gửi nhờ giữ hộ, bị cáo sử dụng 19.800 USD vào mục đích trả tiền nhân công, mua phân bón, giống cây trồng và đặt cọc tiền mua đất theo yêu cầu của bị hại; Tự ý sử dụng 47.000 USD vào mục đích mua vé số và tiêu xài cá nhân khi chưa được sự đồng ý của bị hại, dẫn đến không có khả năng trả lại.

Ngày 29 tháng 4 năm 2023, bị hại về Việt Nam và đề nghị bị cáo trả lại số tiền đã gửi giữ. Do không có tiền trả lại nên khoảng 08 giờ 10 phút ngày 01 tháng 5 năm 2023, lợi dụng bị hại đang nằm ngủ, bị cáo nảy sinh ý định chiếm tiền đã nhận gửi giữ mà không phải trả lại, bị cáo đã sử dụng thủ đoạn gian dối bằng việc lén lút lấy trộm tài sản khác của bị hại rồi đem đi cất giấu, tạo hiện trường giả, nhằm làm cho bị hại lầm tưởng số tiền bị hại gửi cho bị cáo giữ hộ đã bị mất trộm, mục đích chiếm đoạt toàn bộ số tiền bị hại đã gửi giữ là 52.000 USD (bao gồm: 47.000 USD bị cáo đã tiêu xài, 5.000 USD bị cáo đang cất giữ).

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo phạm 02 tội: "Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 và khoản 4 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan cho bị cáo.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh T, thấy rằng:

Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo phạm 02 tội, tội có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đế trật tự, an toàn xã hội. Án sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng, quá trình điều tra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội đã đầu thú. Đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo đã chủ động chỉ chỗ cất giấu tài sản trộm được cho Cơ quan điều tra thu hồi giao trả lại toàn bộ tài sản cho bị hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51

7

của BLHS năm 2015; gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại, đây cũng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Để từ đó xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là dưới khung và mức khởi điểm của khung hình phạt, tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới theo quy định pháp luật nên không được chấp nhận.

Đối với yêu cầu xem xét lại giá trị tài sản bị chiếm đoạt, thấy rằng: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của tỉnh Hậu Giang đã thực hiện đúng quy định pháp luật thể hiện Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 23/8/2023.

[3]. Từ những phân tích và nhận định trên, thấy rằng quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo T phải chịu theo quy định.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh T; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

  2. Tuyên xử:
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
    2. Về hình phạt:
      • - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, Điều 38, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Minh T 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
      • - Căn cứ khoản 4 Điều 175, Điều 38, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Minh T 12 (mười hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

8

  • - Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo Lê Minh T phải chấp hành là 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2023.
  • - Căn cứ vào các điều 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tiếp tục tạm giam bị cáo T với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Hậu Giang;
  • - Công an tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Trại tạm giam tỉnh Hậu Giang;
  • - Trại tạm giam tỉnh Hậu Giang;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 216TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 538/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 538/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger