|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 583/2024/DS-PT
Ngày: 30 - 7 - 2024
V/v: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Mười
Bà Trần Thị Thúy Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 77/2024/TLPT-DS ngày 25/01/2024, về việc: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”, giữa các bên đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H; Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn R; Địa chỉ: A khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Mai P; Địa chỉ: H Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L; Địa chỉ: 8 Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn N; Địa chỉ: H, tổ F, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Kim C; Địa chỉ: 6 Tổ A, Khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim L1; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Nhật T; Địa chỉ: 8 Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Bạch Y; Địa chỉ: H Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện H; Địa chỉ: số A L, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Hoàng Phương L2 và ông Lê Ưu T1; Địa chỉ: số A L, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- - Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim Huỳnh .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Nguồn gốc đất diện tích 15m x 15m, sau khi đo đạc lại còn 143,2m² toạ lạc tại phía sau nhà 8/6A, KP8, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Nguyễn Mai P, là do mẹ nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L cho bằng giấy tay.
Việc ông Nguyễn Mai P lấn chiếm phần đất trên là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Mai P phải giao trả lại phần đất 143,2m², công nhận phần đất trên cho bà và hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1267/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/10/2003 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00633/CGCN do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2008 cho ông Nguyễn Mai P và bà Nguyễn Thị Bạch Y.
Theo đơn và lời khai của phía bị đơn ông Nguyễn Mai P trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phía bị đơn không đồng ý, vì phần nhà đất ông được sở hữu có nguồn gốc ông bà, cha mẹ cho, có giấy tờ đầy đủ, nay đã được cấp Giấy chứng nhận hợp pháp. Việc sở hữu đất của ông các anh em trong nhà đều biết và không ai tranh chấp gì.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Nguyễn Thị Bạch Y thống nhất với trình bày của ông P, ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Bà Nguyễn Thị L thì khai bà nhớ có cho đất cho các con, ai cũng có phần, khi lập giấy tờ cho đất cho bà H do chồng bà là ông Nguyễn Văn H1 lập, bà chỉ ký tên nên không rõ nội dung như thế nào, bà không nhớ thời điểm cũng như diện tích đất cho bà H là bao nhiêu.
Bà Nguyễn Kim C khai phần đất ông P đang sử dụng là đúng phần đất mà cha mẹ cho ông P, vị trí đất bà H được cha mẹ cho khác với vị trí đất của ông P.
Các ông, bà Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị Kim L1, Nguyễn Nhật T cùng trình bày: Cha mẹ có cho đất cho các con, ai cũng có phần, vị trí đất của các ông (bà) khác với vị trí đất của bà H và ông P, vị trí đất cha mẹ cho bà H là bên cạnh phần đất cha mẹ để làm nhà thờ, kéo về phía trái nếu nhìn từ mặt đường vào.
Đại diện Ủy ban nhân dân huyện H trình bày: việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1267/2003 ngày 20/10/2003 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00633/CGCN ngày 31/12/2008 cho ông Nguyễn Mai P và bà Nguyễn Thị Bạch Y là đúng trình tự thủ tục quy định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2013/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Mai P phải trả lại phần đất diện tích 143,2m², theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 28/02/2023 của Công ty TNHH Đ (duyệt nội nghiệp ngày 02/3/2023) và công nhận phần đất trên cho bà H.
Không chấp nhận yêu cầu đòi hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1267/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/10/2003 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00633/CGCN do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2008 cho ông Nguyễn Mai P và bà Nguyễn Thị Bạch Y.
Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 03/10/2023, bà Nguyễn Thị Kim H làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi của bà, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Ngày 12/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 8065/QĐ-VKS-DS, nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại theo hướng sửa một phần án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu đòi phía bị đơn phải trả lại diện tích đất 15m x 15m. Vì cho rằng diện tích đất này cha mẹ đã cho phía bà H nên phía bị đơn đã lấn chiếm phần đất này. Vì vậy, yêu cầu đòi trả đất và yêu cầu hủy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P.
Về phía bị đơn thì đề nghị là vẫn giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.
Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn, vì trong thời gian giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện các thủ tục thẩm tra, xác minh, ghi lời khai cũng như lấy ý kiến của những người là anh, chị em trong gia đình để xác định nguồn gốc đất tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng đã thực hiện việc tạm dừng phiên tòa để cho đương sự cung cấp các tài liệu, chứng cứ cung cấp các nhân chứng. Tuy nhiên, phía nguyên đơn cũng không thực hiện được. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo phần này.
Đối với án phí dân sự sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm buộc phía nguyên đơn phải nộp số tiền hơn 50.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm là chưa phù hợp vì đây là yêu cầu đòi lại đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận, không phải là tranh chấp quyền sở hữu nên phải tính án phí dân sự không giá ngạch là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), nên đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm phần này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa nghe đương sự trình bày và nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim H làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị:
[2.1] Nguyên đơn cho rằng phần đất 143,2m² mà ông Nguyễn Mai P đang lấn chiếm là do nguyên đơn được cha mẹ là ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L3 cho theo đơn xin tách đất thổ cư cho con.
Diện tích đất này theo giấy là 15m x 15m. Phía sau cuối rào là nhà đất số H, tổ F, Khu phố H, thị trấn H, huyện H theo bản họa đồ số 13/438 ngày 7/11/2007 của Sở T2.
Hiện nay, sau khi đo đạc theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày 28/2/2023 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 đã được xác nhận kiểm tra nội nghiệp ngày 02/3/2023 thì diện tích đất tranh chấp của nguyên đơn yêu cầu là 143,2m².
Căn cứ vào văn bản số 7039 ngày 10/10/2018 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H xác định đối với phần đất theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số 1267 năm 2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp vào ngày 20/10/2003 cho ông Nguyễn Mai P và bà Nguyễn Thị Bạch Y, có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn H trên tờ tường trình nguồn gốc đất ngày 1/8/2003, thì nhà đất có số H, tổ F, Khu phố H, thị trấn H của ông P xây dựng năm 1990 trên đất do cha mẹ cho sử dụng không có tranh chấp, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
Đối với phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H00633 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2008 cho ông P và bà Y. Thì theo xác nhận của Ủy ban nhân dân huyện H trên đơn xin cấp giấy chứng nhận ngày 16/9/2008, ghi đất do cha mẹ ruột cho vào năm 2003 sử dụng cho đến nay.
Theo lời trình bày của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Là những người trong gia đình như mẹ và các anh chị em bà H, thì bà L3 là mẹ trình bày bà nhớ có cho đất, cho các con ai cũng có phần khi lập giấy tờ cho đất cho bà H. Chồng bà là ông H1 có lập và chỉ ký tên không rõ nội dung thế nào, bà cũng không nhớ về thời điểm cũng như diện tích đất cho mỗi người cụ thể là bao nhiêu.
Ông Nguyễn Nhật T, bà Nguyễn Thị Kim L1, ông Nguyễn Văn N1 là những anh em trong gia đình trình bà H trình bày: Cha mẹ có cho đất cho các con, ai cũng có phần, vị trí đất của các ông bà khác với vị trí đất của bà H và ông P, vị trí đất của cha mẹ cho bà H là bên cạnh phần đất của cha mẹ để làm nhà thờ kéo về phía trái, nếu nhìn từ đường vào.
Bà Kim C cũng là anh em trong gia đình trình bày: Phần đất ông P đang sử dụng đúng là phần đất do cha mẹ đã cho ông P. Vị trí đất của bà H được cha mẹ cho là một vị trí khác với đất của ông P.
Quá trình giải quyết vụ việc, phía nguyên đơn có xuất trình Tờ xin tách thửa đất thổ cư cho con để chứng minh đất trên được cha mẹ cho, nhưng văn bản này được xác lập bằng giấy tay, không có ngày, tháng, năm sinh, không có xác nhận chính quyền địa phương và đặc biệt là không có bản chính chỉ có bản photo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã không thể đối chiếu được đối với bản chính để xác định giá trị thực của tài liệu, chứng cứ nêu trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu hay chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có cơ sở để cấp phúc thẩm chấp nhận.
[2.2] Xét đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đối với phần án phí dân sự về tranh chấp đòi lại đất và tranh chấp yêu cầu hủy chứng nhận quyền sử dụng đất, mức án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc phía bà H phải chịu án phí là 55.238.963đồng là chưa phù hợp với quy định về án phí. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng nghị, sửa án phí về phần này.
[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015.
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 8065/QĐ-VKS-DS ngày 12/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Huỳnh .
Sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí.
Áp dụng Điều 26, 34, 228, 264, 267, 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng Điều 158, 163, 164, 166, 199, 221, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự 2015; Áp dụng Điều 167, 168, 170, 179, 203 Luật Đất đai 2013; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; Áp dụng Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Mai P phải trả lại phần đất diện tích 143,2m², theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 28/02/2023 của Công ty TNHH Đ (duyệt nội nghiệp ngày 02/3/2023) và công nhận phần đất trên cho bà H.
- Không chấp nhận yêu cầu đòi hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1267/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/10/2003 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00633/CGCN do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/12/2008 cho ông Nguyễn Mai P và bà Nguyễn Thị Bạch Y.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0047385 ngày 09/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp (do ông Nguyễn Văn R nộp thay) là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0001182 ngày 14/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 583/2024/DS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 583/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần án sơ thẩm về án phí
