Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 538/2024/DS-ST

Ngày: 23/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Vân;
  2. Ông Nguyễn Văn Quản;

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Hòa - Kiểm sát viên.


Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 994/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1123 /2024/QÐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N2;

Địa chỉ trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thùy M, sinh năm 1995, chức vụ: Cán bộ pháp chế, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số: 584/UQ-NHNoXA lập ngày 20/02/2023 của Ngân hàng N2 – chi nhánh X);

Nơi thường trú: xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long;

Địa chỉ liên lạc: B Quốc lộ A, Khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có mặt tại phiên tòa)


Bị đơn: Ông Chiêm Văn H, sinh năm 1958;

Địa chỉ: G Đường H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt tại phiên tòa)


Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Thanh H1, sinh năm 1962 (là vợ của ông Chiêm Văn H);
  2. Địa chỉ: G Đường H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Chiêm Văn N, sinh năm 1961;
  4. Ông Chiêm Văn D, sinh năm 1971;
  5. Ông Chiêm Triều Q, sinh năm 1995;
  6. Ông Thái Nghĩa T, sinh năm 1977;
  7. Ông Chiêm Văn C, sinh năm 1971;
  8. Bà Nguyễn Thị Yến N1, sinh năm 1968 (là vợ của Chiêm Văn C);
  9. Ông Chiêm Triều M1, sinh năm 1997 (là con của Chiêm Văn C – Nguyễn Thị Yến N1);
  10. Em Chiêm Mỹ A, sinh ngày 18/01/2007 (là con của Chiêm Văn C – Nguyễn Thị Yến N1).

Người đại diện theo pháp luật của em Chiêm Mỹ A là ông Chiêm Văn C – Nguyễn Thị Yến N1.

Cùng địa chỉ: 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tất cả vắng mặt tại phiên tòa)


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Tại Đơn khởi kiện, bản khai, biên bản và trong quá trình tố tụng thì người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – bà Ngô Thị Thùy M trình bày:

Ngày 29/11/2018 Ngân hàng N2 – chi nhánh X (sau đây viết tắt là Ngân hàng) với ông Chiêm Văn H ký kết Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554.

Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông H vay số tiền 6.000.000.000 (sáu tỷ) đồng; mục đích vay: mua nhà ở đất ở; thời hạn vay: 05 (năm) năm, kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng; lãi suất cho vay: 11,5%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất thay đổi theo các Thông báo điều chỉnh lãi suất. Định kỳ trả nợ tiền gốc và lãi như sau:

Ngày 30/11/2019 trả nợ gốc 200.000.000 đồng và lãi vay ngày 30 hàng quý.

Ngày 30/11/2020 trả nợ gốc 800.000.000 đồng và lãi vay ngày 30 hàng quý.

Ngày 30/11/2021 trả nợ gốc 1.000.000.000 đồng và lãi vay ngày 30 hàng quý.

Ngày 30/11/2022 trả nợ gốc 2.000.000.000 đồng và lãi vay ngày 30 hàng quý.

Ngày 30/11/2023 trả nợ gốc 2.000.000.000 đồng và lãi vay ngày 30 hàng quý.

Để đảm bảo cho khoản vay của ông Chiêm Văn H, thì bà Chiêm Văn N thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 4, tại địa chỉ 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011. Việc thế chấp này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/11/2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp nêu trên thể hiện: Bên thế chấp là bà N thế chấp tài sản cho Ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông H tại các Hợp đồng cấp tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với ông H. Dựa vào tờ Theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ (Đính kèm theo Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018) thì ngày 30/11/2018 Ngân hàng giải ngân và ông H nhận 6.000.000.000 (sáu tỷ) đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông H đã trả nợ gốc với số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và số tiền lãi trong hạn 1.478.679.451 (một tỷ, bốn trăm bảy mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi mốt) đồng. Thời gian về sau, ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên cũng như tại các Biên bản làm việc giữa Ngân hàng với ông H. Mặc dù Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở. Do ông H trễ hạn thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án yêu cầu:

  1. Ông Chiêm Văn H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 23/8/2024 là 8.377.813.974 (tám tỷ, ba trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm mười ba nghìn, chín trăm bảy mươi bốn) đồng. Trong đó:

    Nợ gốc: 5.800.000.000 đồng.

    Nợ lãi trong hạn: 2.288.730.412 đồng.

    Nợ lãi quá hạn: 289.083.562 đồng.

  2. Kể từ ngày 24/8/2024 ông Chiêm Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
  3. Trong trường hợp ông Chiêm Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là nhà đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số: 4 tại địa chỉ: 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011 cho bà Chiêm Văn N) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh; số công chứng: 23234, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/11/2018 để thu hồi nợ toàn bộ số nợ.
  4. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh; số công chứng: 23234, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/11/2018 không đủ để thanh toán khoản nợ, thì ông Chiêm Văn H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
  5. Trong trường hợp ông Chiêm Văn H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 giải chấp và trả hồ sơ cho bà Chiêm Văn N, gồm bản chính: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 22/6/2011.
  6. Về chi phí tố tụng khác: Ngân hàng yêu cầu ông Chiêm Văn H trả số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng là chi phí xem xét, thẩm định.

Ngoài ra, nguyên đơn không có ý kiến yêu cầu nào khác.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Giai đoạn đầu của tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bị đơn có mặt tại Tòa án. Và cũng trong giai đoạn này, ông Chiêm Văn H là người đại diện theo ủy quyền của bà Chiêm Văn N. Trong vụ án này, ông H là bị đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Chiêm Văn N – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đối chiếu với quy định của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập, nên Tòa án có ban hành Thông báo ông Chiêm Văn H không được làm người đại diện theo ủy quyền của bà Chiêm Văn N trong vụ án này.

Tòa án tiếp tục tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

Tại phiên tòa ngày 02/8/2024, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa từ bỏ quyền tranh tụng, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt trình bày: Giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong quá trình tố tụng. Cụ thể:

Yêu cầu ông Chiêm Văn H thanh toán số tiền 8.377.813.974 (tám tỷ, ba trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm mười ba nghìn, chín trăm bảy mươi bốn) đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 24/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp ông Chiêm Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ, thì ông Chiêm Văn H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp ông Chiêm Văn H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 giải chấp và trả hồ sơ cho bà Chiêm Văn N, gồm bản chính: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất do Chi Cục thuế Q1 – Cục thuế Thành phố H cấp số: 112765/TB-CCT ngày 22/6/2011. Ông Chiêm Văn H trả cho Ngân hàng chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:

- Tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc trả tiền nợ gốc, tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng do hai bên xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018 giữa Ngân hàng N2 với ông Chiêm Văn H được giao kết và thực hiện giải ngân tiền vay tại chi nhánh X của Ngân hàng; địa chỉ B Quốc lộ A, Khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết tranh chấp. Do đó, Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh theo sự lựa chọn của nguyên đơn.

[2] Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng:

Theo kết quả xác minh tại Công an P, Quận A; Phường H, Quận H; Phường A, Quận A Thành phố Hồ Chí Minh thì:

“Ông Chiêm Văn H, sinh năm 1958 có nơi thường trú tại A Đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Chỗ ở hiện nay G Đường H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh”. “Ông Chiêm Văn H, sinh năm 1958 có thực tế cư trú tại G Đường H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến nay cùng vợ là bà Trần Thị Thanh H1”.

“Đương sự Chiêm Văn N, sinh năm 1961; Chiêm Văn D, sinh năm 1971; Chiêm Triều Q, sinh năm 1995, Thái Nghĩa T, sinh năm 1997; Chiêm Văn C, sinh năm 1971; Nguyễn Thị Yến N1, sinh năm 1968; Chiêm Triều M1, sinh năm 1997; Chiêm Mỹ A, sinh ngày 18/01/2007 hiện cư trú thực tế tại địa chỉ 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh”.

Trường hợp đương sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ dân sự mà không thông báo về nơi cư trú mới thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Trong quá trình tố tụng Tòa án không nhận được thông báo nào của đương sự về thay đổi nơi cư trú mới. Do đó, Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt văn bản tố tụng đối với các đương sự theo kết quả xác minh.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử:

Theo quy định của pháp luật: Điều 91, 92, 93, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, ...”. Đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.

Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 29/11/2018 bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 để vay tiền của nguyên đơn. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho nguyên đơn như đã thỏa thuận tại Hợp đồng nêu trên. Tính đến ngày 23/8/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 8.377.813.974 (tám tỷ, ba trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm mười ba nghìn, chín trăm bảy mươi bốn) đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ tính đến ngày 23/8/2024 là 8.377.813.974 (tám tỷ, ba trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm mười ba nghìn, chín trăm bảy mươi bốn) đồng, khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

[3.2] Yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 24/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, trong trường hợp bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên, thì kể từ ngày 24/8/2024 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành án xong là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Trong quá trình tố tụng Tòa án có lập Biên bản tiến hành xem xét tại chỗ đối với nhà đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số: 4 tại địa chỉ: 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm xem xét thì hiện trạng không có gì thay đổi so với Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011 cho bà Chiêm Văn N.

Theo quy định tại Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia”.

Theo quy định tại Điều 299 và Khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản bảo đảm khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Theo Đơn cam kết về tài sản riêng ngày 18/6/2007 thì bà Chiêm Văn N có chồng là ông Thái Quốc S. Và ông S cam kết căn nhà số 269/6 Đường Nguyễn Thị Nhỏ (số cũ 46/13 Đường Lò Siêu), Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh do bà N mua trước khi kết hôn, bằng tài sản riêng của bà N, nên Tòa án không đưa ông Thái Quốc S vào tham gia tố tụng.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bị đơn theo Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018, thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Chiêm Văn N đã thế chấp là nhà đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số: 4 tại địa chỉ: 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011 cho bà Chiêm Văn N) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh; số công chứng: 23234, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD. Việc thế chấp này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/11/2018 theo đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trường hợp, bị đơn thanh toán đầy đủ các khoản nợ thì nguyên đơn trả cho bà Chiêm Văn N bản chính: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011 và thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất do Chi Cục thuế Q1 – Cục thuế Thành phố H cấp số: 112765/TB-CCT ngày 22/6/2011.

[3.4] Chi phí tố tụng khác:

Xem xét, thẩm định tại chỗ là thủ tục tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Nguyên đơn tạm ứng 8.000.000 (tám triệu) đồng. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự. Do bị đơn là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 57.567.306 (năm mươi bảy triệu, năm trăm sáu mươi bảy nghìn, ba trăm lẻ sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0022490 ngày 09/3/2023 của Cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.


Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:


Căn cứ vào các Điều 26, 35, 40, 91, 92, 93, 96, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 299, 317, 320, 322, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).


  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Buộc ông Chiêm Văn H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2 số tiền 8.377.813.974 (tám tỷ, ba trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm mười ba nghìn, chín trăm bảy mươi bốn) đồng, khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Trong đó:

      Nợ gốc: 5.800.000.000 đồng.

      Nợ lãi trong hạn: 2.288.730.412 đồng.

      Nợ lãi quá hạn: 289.083.562 đồng.

    2. Kể từ ngày 24/8/2024 ông Chiêm Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018 cho đến khi thi hành án xong.
    3. Trong trường hợp, ông Chiêm Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là nhà đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số: 4 tại địa chỉ: 2 Đường N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011 cho bà Chiêm Văn N) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh; số công chứng: 23234, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/11/2018 để thu hồi toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
    4. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6150LCP201800484 ngày 29/11/2018 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh; số công chứng: 23234, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/11/2018 không đủ để thanh toán khoản nợ, thì ông Chiêm Văn H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 6150-LAV-201800554 ngày 29/11/2018 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
    5. Trong trường hợp ông Chiêm Văn H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 giải chấp và trả giấy tờ cho bà Chiêm Văn N, gồm bản chính: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BE 973460, số vào sổ cấp GCN: CH00325 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/6/2011 và Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 22/6/2011.
    6. Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  2. Về án phí:
    1. Ông Chiêm Văn H là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định.
    2. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí 57.567.306 (năm mươi bảy triệu, năm trăm sáu mươi bảy nghìn, ba trăm lẻ sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0022490 ngày 09/3/2023 của Cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Về chi phí tố tụng khác:

    Ông Chiêm Văn H trả cho Ngân hàng N2 số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng là chi phí xem xét, thẩm định.

  4. Quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

  5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).


Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Mỹ Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 538/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 538/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger