TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 537/2024/DS-ST Ngày: 07/8/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Anh Ngọc
2. Bà Trương Thị Lệ Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú: Bà Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 218/2024/DSST ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 563/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 745/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S;
Địa chỉ: Số B - B đường N, phường V, Quận C, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984; Địa chỉ liên hệ: Lầu E, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số 4810/2023/UQ-TGĐ ngày 20/12/2023)
- Bị đơn: Ông Lưu Đình K, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/8/2022, ông Lưu Đình K có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.600.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 14.950.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông K vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 8 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 11/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 07/8/2024, ông K còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 33.982.273 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó:
- Nợ gốc: 20.857.343 đồng;
- Lãi quá hạn: 13.124.930 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, làm việc trực tiếp với ông K, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn và tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông K vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông K trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 07/8/2024 là 33.982.273 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó:
- Nợ gốc: 20.857.343 đồng;
- Lãi quá hạn: 13.124.930 đồng.
Đồng thời có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 08/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Yêu cầu thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số nợ.
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/4/2024 để các đương sự giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn ông Lưu Đình K vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án tiến hành lập biên bản về việc không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa xét xử:
- Ngân hàng thương mại cổ phần S (do ông Trần Đức T là đại diện theo ủy quyền) có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đồng thời có bản tự khai trình bày ý kiến, yêu cầu ông Lưu Đình K trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 07/8/2024 là 33.982.273 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó: nợ gốc là 20.857.343 đồng, lãi quá hạn là 13.124.930 đồng. Đồng thời có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 08/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Yêu cầu thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số nợ.
- Bị đơn ông Lưu Đình K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là đã tự nguyện từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Lưu Đình K ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 26/8/2022. Sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông K với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.600.000 đồng, ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 14.950.000 đồng. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 07/8/2024, ông K còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 33.982.273 đồng (trong đó nợ gốc là 20.857.343 đồng, lãi quá hạn là 13.124.930 đồng). Xét thấy, trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại hợp đồng nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của ông sang nợ quá hạn là đúng với thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định của pháp luật, có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Hội đồng xét xử xét thấy tại Đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/8/2022. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng. Do bị đơn ông Lưu Đình K có nơi cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, trong thời hạn khởi kiện và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự:
Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lưu Đình K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn ông Lưu Đình K.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
- Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 33.982.273 đồng (trong đó nợ gốc là 20.857.343 đồng, lãi quá hạn là 13.124.930 đồng).
Hội đồng xét xử nhận thấy, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng đối với bị đơn trong vụ án theo quy định tại các Điều 170, Điều 171, Điều 172 và Điều 173 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến khi nhận được thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 199 và thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, ... mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/8/2022 ông K đã ký với Ngân hàng thì hình thức và nội dung sự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Ngân hàng và ông K đã thỏa thuận về việc cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 30.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng, ông K đã giao dịch với tổng số tiền là 29.600.000 đồng, đã thanh toán 14.950.000 đồng. Trong việc thực hiện hợp đồng trên, ông K là bên vi phạm hợp đồng, không trả nợ đúng hạn quy định trong hợp đồng, theo quy định tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 11/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông K thanh toán số tiền 33.982.273 đồng (trong đó nợ gốc là 20.857.343 đồng, lãi quá hạn là 13.124.930 đồng) là phù hợp với quy định tại điểm 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần toàn bộ số nợ khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số nợ.
Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 33.982.273 đồng một lần khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 351 Bộ luật Dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có căn cứ chấp nhận.
- Xét nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ trên.
Xét hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên có thỏa thuận rõ lãi suất, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày kế tiếp ngày Tòa án xét xử sơ thẩm nếu bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ trên là phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên có căn cứ chấp nhận.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 23, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng:
- - Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;
- - Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Điều 6, Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc bị đơn ông Lưu Đình K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ tính đến ngày 07/8/2024 là 33.982.273 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó:
- - Nợ gốc: 20.857.343 đồng;
- - Lãi quá hạn: 13.124.930 đồng.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 08/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lưu Đình K phải chịu số tiền 1.699.114 đồng (Một triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn một trăm mười bốn đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 681.529 đồng (Sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm hai mươi chín đồng) theo Biên lai thu số 0007822 ngày 27/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú.
3. Địa điểm thi hành: Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Lưu Đình K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Trang |
6
Bản án số 537/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 537/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
