Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 537/2024/DS-ST

Ngày: 30/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa
  • 2/ Ông Nguyễn Đình Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 117/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 483/2024/QĐXXST-DS ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Trụ sở: Lầu 8, số B - B N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Minh T, sinh năm 1973; địa chỉ liên hệ: Lầu H, số B - B N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền. (Theo Giấy ủy quyền số 49 ngày 17/01/2024) (Vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Hoàng Trọng P, sinh năm 1986, địa chỉ: Số G N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/01/2024 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đặng Minh T trình bày: Ngày 12/3/2021, ông Hoàng Trọng P có ký với Ngân hàng hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Sau khi phê duyệt, ngân hàng đã cấp cho ông P 01 thẻ tín dụng Visa với hạn mức tín dụng là 47.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 614.997.551đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 577.241.000 đồng. Do ông Phan vi p nghĩa vụ thanh toán nên ngày 05/7/2023, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 15/01/2024, ông P còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 75.527.387 đồng trong đó nợ gốc là 59.098.779 đồng và nợ lãi là 16.428.608 đồng. Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan t ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ nêu trên và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Trọng P vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn ngân hàng có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan t ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 89.975.761 đồng trong đó nợ gốc là 59.098.779 đồng và nợ lãi là 30.876.982 đồng. Ông Phan c phải chịu khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Bị đơn ông P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, sự vắng mặt của các đương sự

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nợ theo hợp đồng đã ký, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ hộ khẩu thường trú và đang thực tế cư trú tại quận T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Hoàng Trọng P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thì vào ngày 12/3/2021, Ngân hàng và ông P có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Nội dung Ngân hàng cấp cho ông Phan t1 tín dụng visa, hạn mức sử dụng là 47.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, tính đến ngày 30/7/2024, ông P còn tổng dư nợ gốc, lãi của thẻ tín dụng số tiền là 89.975.761 đồng trong đó nợ gốc là 59.098.779 đồng và nợ lãi là 30.876.982 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan t ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ nêu trên và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng là phù hợp Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Như vậy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ như trên, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông Phan c phải trả tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ, theo mức lãi suất qui định tại hợp đồng đã ký.

Xét ông Phan vi p nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng yêu cầu ông Phan t số tiền là 89.975.761 đồng trong đó nợ gốc là 59.098.779 đồng, nợ lãi là 30.876.982 đồng và trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. H lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự; Luật phí và lệ phí 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S;

    Ông Hoàng Trọng P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền là 89.975.761 (tám mươi chín triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn bảy trăm sáu mươi mốt) đồng, trong đó nợ gốc là 59.098.779 (năm mươi chín triệu không trăm chín mươi tám ngàn bảy trăm bảy mươi chín) đồng và nợ lãi là 30.876.982 (ba mươi triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn chín trăm tám mươi hai) đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/3/2021, thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Ông Hoàng Trọng Phan c1 phải trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ, theo mức lãi suất qui định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/3/2021.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Trọng P phải chịu án phí sơ thẩm là 4.498.788 (bốn triệu bốn trăm chín mươi tám ngàn bảy trăm tám mươi tám) đồng. H lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí là 1.888.185 (một triệu tám trăm tám mươi tám ngàn một trăm tám lươi lăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001259 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông Hoàng Trọng P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS Q.Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Trần Ái Vy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 537/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 537/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger