Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 536/2024/HS-PT

Ngày 04-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Đức Thọ

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 695/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc T1, người bị hại Lại Văn T2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2023/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo không có kháng cáo, bị kháng cáo: Võ Đức Hoàng T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1969, tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: số A, khu dân cư A, Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ H (đã chết) và bà Đinh Thị H1; có chồng là Lê Quang T3 (đã ly hôn) và 02 con (sinh năm 1992 và năm 2003); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/6/2020 đến nay.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Võ Đức Hoàng T: Ông Vũ Thanh H2 là Luật sư của Văn phòng luật sư Vũ Thanh H2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Bị cáo từ chối người bào chữa cho bị cáo.

- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Vũ Ngọc T1, sinh năm 1990, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: số K, khu E, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc T4 và bà Vũ Thị L; có vợ là Lê Thị M và 01 con (sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/3/2021 đến nay, bị cáo tại ngoại.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Ngọc T1: Ông Phạm Tuấn A, là luật sư của Công ty Luật B.N.C và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

- Bị hại: Ông Lại Văn T2, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Số D, Quốc lộ A, khu phố D, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Quang H3, sinh năm 1992; Nơi thường trú: Số A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi tạm trú: Số C khu chung cư A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  2. Ông Lê Quang T3, sinh năm 1959; Nơi thường trú: Số A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi tạm trú: Tổ C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Đức Hoàng T và ông Lê Quang T3 là vợ chồng nhưng đã ly hôn vào ngày 28/4/2020. Ông Lê Quang H3 là con của T và ông T3.

Công ty trách nhiệm hữu hạn L3 (sau đây gọi tắt là Công ty L3), địa chỉ: số A, khu dân cư A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3602148979 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp, đăng ký lần đầu ngày 29/10/2009, do ông Lê Quang T3 làm giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công ty. Ngày 26/12/2016, Công ty L3 đăng ký thay đổi lần thứ ba, nội dung thay đổi giám đốc, đại diện theo pháp luật là ông Lê Quang H3; Võ Đức Hoàng T là Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty. Ngày 27/05/2019, đăng ký thay đổi lần thứ năm, nội dung thay đổi giám đốc, đại diện theo pháp luật là Võ Đức Hoàng T và thay đổi tên Công ty T9

Công ty trách nhiệm hữu hạn H4 (sau đây gọi tắt là Công ty H4), địa chỉ: N - 02B - 08, Khu đô thị T, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 3702673114 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp, đăng ký lần đầu ngày 11/6/2018, do bà Lâm Thị Thúy L1, sinh năm 1987 làm giám đốc, đại diện theo pháp luật. Ngày 18/10/2018, đăng ký thay đổi lần 1, thay đổi giám đốc, đại diện theo pháp luật ông Ngụy Khắc V, sinh năm 1988. Ngày 08/11/2018, đăng ký thay đổi lần 2, thay đổi giám đốc, đại diện theo pháp luật là Vũ Ngọc T1. Trên thực tế bà L1, ông V không điều hành, quản lý Công ty mà do T1 quản lý, điều hành. Bà L1 cũng không ủy quyền, bổ nhiệm chức vụ điều hành Công ty H4 cho Vũ Ngọc T1.

Dự án Khu dân cư 5B tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương (gọi tắt là dự án Khu dân cư 5B) được Ủy ban nhân dân huyện B phê duyệt theo Quyết định số: 1637/QĐ-UBND ngày 28/7/2017, do Tổng Công ty Đ1, địa chỉ tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (gọi tắt là Công ty B) làm chủ đầu tư. Dự án có tổng diện tích là 1.648.258 m², đất ở là 879.014 m² được chia làm 58 lô, trong đó lô đất B37 và B38 có diện tích mỗi lô là 12.430 m², được chia thành 78 ô/lô, diện tích mỗi ô từ 150 m² đến 332,5 m² (sau đây gọi tắt là lô B37, B38).

Ngày 28/5/2018, Công ty trách nhiệm hữu hạn B1 (sau đây gọi tắt là Công ty L4), địa chỉ: Số A, đường A, Khu nhà ở T, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1979 làm giám đốc, đại diện ký Hợp đồng nguyên tắc số 05/HĐNT/2018 với Công ty B để nhận chuyển nhượng 02 lô đất số B37, B38. Ngày 10/6/2018, ông Lê Xuân Đ đại diện Công ty L5 hợp đồng ủy quyền với Công ty H4 do Vũ Ngọc T1 làm đại diện, nội dung ủy quyền: Công ty L6 cho Công ty H4 tìm kiếm khách hàng chào bán các ô đất thuộc lô B37, B38. Tuy nhiên do Công ty L4 không thanh toán theo quy định nên hợp đồng giữa 02 bên đã hết hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Ngày 16/7/2018, Công ty L3 do ông Lê Quang H3 đại diện ký Hợp đồng nguyên tắc số 24/HĐNT/2018 với Công ty B để nhận chuyển nhượng 02 lô đất số B37, B38. Theo nội dung hợp đồng, giá trị chuyển nhượng 49.720.000.000 đồng (bốn mươi chín tỷ bảy trăm hai mươi triệu đồng), với tiến độ thanh toán chia thành 02 đợt: Đợt 1, trong vòng 15 ngày sau khi ký Hợp đồng nguyên tắc sẽ thanh toán 95% giá trị với số tiền 47.234.000.000 đồng (bốn mươi bảy tỷ hai trăm ba mươi bốn triệu đồng); Đợt 2, trước khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao số tiền còn lại 2.486.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm tám mươi sáu triệu đồng). Hợp đồng quy định sau khi Công ty L3 thanh toán hết số tiền đợt 1 thì Công ty B sẽ bàn giao đất cho Công ty L3, sau 15 ngày nếu Công ty L3 không thanh toán như tiến độ nêu trên thì hợp đồng đương nhiên sẽ hết hiệu lực. Sau khi ký hợp đồng nguyên tắc, ông H3 ký giấy ủy quyền cho T thay mặt ông H3 thực hiện, quyết định và ký các hợp đồng liên quan đến giao dịch mua bán nhà ở tại các công trình công ty.

Ngày 01/8/2018, T đại diện Công ty L3 ký hợp đồng ủy quyền với Công ty H4 do Vũ Ngọc T1 là người đại diện để tìm kiếm khách hàng chào bán các ô đất thuộc lô B37, B38. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty L3 không thực hiện việc thanh toán đợt 1 cho Công ty B; đến ngày 08/8/2018 T sử dụng tài khoản của Công ty L3 chuyển khoản 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) vào tài khoản của Công ty B theo số tài khoản ghi trên hợp đồng nguyên tắc với mục đích muốn xin kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng. Ngày 14/9/2018, T đến Công ty B xin gia hạn thời hạn thanh toán hợp đồng nhưng không được đồng ý, tại biên bản làm việc giữa 02 bên thể hiện hợp đồng nguyên tắc ngày 16/7/2018, đã hết hiệu lực. Ngày 01/11/2018, Công ty B và Công ty L3 do T làm đại diện đã ký Biên bản thanh lý hợp đồng số 24/HĐNT/2018 và Công ty B đã trả lại cho Công ty L3 3.000.000.000 đồng.

Võ Đức Hoàng T biết rõ việc chưa ký hợp đồng chuyển nhượng thì Công ty L3 không phải là chủ sử dụng lô đất B37, B38; đồng thời hợp đồng nguyên tắc số 24/HĐNT/2018 đã hết hiệu lực nhưng vẫn giao cho Công ty H4 môi giới cho khách hàng và đưa ra thông tin gian dối lô B37, B38 thuộc quyền sở hữu của Công ty L3 để bán cho khách hàng nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng.

Vai trò của Vũ Ngọc T1 giúp sức Võ Đức Hoàng T lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện như sau: T1 có hành vi đưa ra thông tin gian dối việc T1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty H4; thông tin gian dối về quyền sử dụng đất đối với các ô đất số 60, 61 tại lô B37, B38 để tạo lòng tin cho ông Nguyễn Doanh T5, sinh năm 1970 ký kết hợp đồng đặt cọc (trên hợp đồng đặt cọc thể hiện đất thuộc quyền sở hữu của Công ty nhằm chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng của ông Nguyễn Doanh T5 vào các ngày 24/6/2018, 28/6/2018 và 11/7/2018, trong khi T1 biết rõ trong thời gian này Hợp đồng nguyên tắc số 05/HĐNT/2018 giữa Công ty L4 với Công ty B đối với hai lô đất nêu trên đã hết hiệu lực và Công ty L3 thì chưa ký hợp đồng nào với Công ty B đối với 02 lô đất nêu trên. Đồng thời, tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc và môi giới cho ông Nguyễn Doanh T5; ông Tạ Công T6, sinh năm 1953; ông Đinh Văn C, sinh năm 1981 thì Vũ Ngọc T1 biết rõ lô B37, B38 không thuộc quyền sở hữu của Công ty L3, Công ty L3 chưa đủ điều kiện chuyển nhượng đất nhưng T1 vẫn cam kết, giới thiệu không đúng sự thật về quyền sử dụng đất với ông T5, ông T6 và ông C giúp T chiếm đoạt số tiền 4.450.000.000 đồng, trong đó T1 đã hưởng lợi số tiền 550.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2019, Võ Đức Hoàng T đại diện Công ty L3, với chức danh là Chủ tịch hội đồng thành viên ký tên chuyển nhượng 06 ô đất kèm nhà ở trên đất cho 04 khách hàng và nhận số tiền chuyển nhượng là 7.650.000.000 đồng; Trong đó, Vũ Ngọc T1 là người trực tiếp giới thiệu 02 lô đất B37, B38, ký hợp đồng đặt cọc, phiếu thu, nhận tiền cọc, nhận tiền chuyển nhượng của 03 khách hàng giao cho T, đã giúp sức cho T chiếm đoạt của 03 khách hàng 4.450.000.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), để hưởng lợi 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng). Cụ thể như sau:

  1. Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Doanh T5:
  2. Vũ Ngọc T1 có mối quan hệ quen biết với ông Phạm Bá T7 (sinh năm 1992) nên T1 kêu ông T7 tìm kiếm khách hàng để T1 môi giới bán 02 lô đất B37, B38, ông T7 sẽ được hưởng tiền hoa hồng khi kiếm được khách hàng. Thông qua giới thiệu của ông T7, ngày 24/6/2018 ông Nguyễn Doanh T5 gặp và được T1 giới thiệu Công ty H4 là nhà phân phối trực tiếp của Công ty B đối với 02 lô đất B37, B38 nên ông T5 tin tưởng và ký Hợp đồng đặt cọc mua 02 ô đất thuộc lô B37 với Vũ Ngọc T1, giám đốc Công ty H4, ông T5 đã nộp số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho Công ty H4 theo phiếu thu đóng dấu Công ty H4 ngày 28/6/2018 và 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo phiếu thu đóng dấu Công ty H4 ngày 11/7/2018 (trên hợp đồng đặt cọc thể hiện đất thuộc quyền sở hữu của Công ty H4). Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc và nhận tiền cọc của ông T5 thì Hợp đồng nguyên tắc số 05/HĐNT/2018 giữa Công ty B và Công ty L4 đã hết hiệu lực; Công ty L3 thì chưa ký hợp đồng về việc nhận chuyển nhượng đối với 02 lô đất B37, B38 nêu trên với Công ty B; Công ty L3 cũng không có ủy quyền cho T1 hay Công ty H4 môi giới bán 02 lô đất này.

    Ngày 01/8/2018, Võ Đức Hoàng T đại diện Công ty L3 ký hợp đồng ủy quyền với Công ty H4 do T1 là người đại diện để tìm kiếm khách hàng chào bán các ô đất thuộc lô B37, B38. Lúc này T1 vẫn không thông báo cho T biết về việc đã ký Hợp đồng đặt cọc và nhận số tiền cọc 700.000.000 đồng của ông T5. Sau khi nhận tiền của ông T5, T1 đưa cho T 400.000.000 đồng; T1 hưởng 300.000.000 đồng thể hiện tại giấy xác nhận ngày 23/10/2018 giữa Công ty H4 và Công ty L3, T1 cho ông T7 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) tiền hoa hồng.

    Gần đến ngày ký hợp đồng chuyển nhượng khoảng 01 ngày, T1 thông báo cho ông T5 biết nhà đầu tư 02 lô đất nêu trên là Công ty T9 Ngày 03/8/2018, T1 kêu ông T7 dẫn ông T5 đến nhà T tại Đồng Nai để ký hợp đồng chuyển nhượng, Võ Đức Hoàng T đại diện công ty L3, với chức danh là Chủ tịch hội đồng thành viên ký tên chuyển nhượng cho ông T5 căn nhà được Công ty L3 xây dựng trên 02 ô đất số 60, 61 thuộc lô B37, diện tích 02 ô là 300m², diện tích xây dựng là 220m² với giá 2.600.000.000 đồng (hai tỷ sáu trăm triệu đồng). Ông T5 đã thanh toán cho T 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) tại phiếu thu ngày 03/8/2018. Tổng cộng ông T5 đã thanh toán mua 02 ô đất thuộc lô B37 nêu trên là 1.700.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm triệu đồng).

  3. Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Tạ Công T6:
  4. Tháng 07/2018, ông Tạ Công T6 và con gái là bà Tạ Hải N (sinh năm 1990) sau khi tìm hiểu và được nhân viên Công ty H4 giới thiệu 02 lô đất B37, B38 là thuộc quyền sở hữu của Công ty H4 và dẫn đi xem vị trí 02 lô đất này. Ông T6 đồng ý mua 01 ô đất thuộc lô B38 và bà N đã đặt cọc cho Công ty H4 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo phiếu thu ngày 30/7/2018 có đóng dấu Công ty H4. Đến ngày 31/7/2018, ông T6 ký Hợp đồng đặt cọc với Vũ Ngọc T1, giám đốc Công ty H4 và nộp tiền đặt cọc 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng) cho Công ty H4 theo phiếu thu có đóng dấu Công ty H4 ngày 31/7/2018 (trên hợp đồng đặt cọc thể hiện đất thuộc quyền sở hữu của Công ty H4). Ngày 20/8/2018, ông T6 đến Công ty H4 gặp T1 để ký hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với đất. Lúc này T1 nói cho ông T6 biết lô đất B37, B38 thuộc dự án Khu dân cư 5B là của Công ty L3 nên đưa cho ông T6 xem bản Hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà ở gắn liền với đất mà Võ Đức Hoàng T là Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty L3 đã ký tên và đóng dấu sẵn với nội dung sau: Công ty L3 chuyển nhượng cho ông T6 ô đất số 38 thuộc lô B38, diện tích đất là 150m² kèm nhà ở trên đất do Công ty L3 xây dựng với giá 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng). Sau khi xem nội dung hợp đồng, ông T6 đã đồng ý ký tên vào Hợp đồng thỏa thuận nêu trên. Ông T6 đã nộp cho Công ty H4 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) theo phiếu thu đóng dấu của Công ty H4 ngày 20/8/2018. Tổng cộng, ông T6 và bà N nộp cho Công ty H4 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), T1 đã giao lại 900.000.000 đồng cho T, T1 hưởng 100.000.000 đồng thể hiện tại giấy xác nhận ngày 23/10/2018, giữa Công ty H4 và Công ty T9

  5. Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Đinh Văn C:
  6. Tháng 07/2018, ông Đinh Văn C đến trụ sở Công ty H4 để tìm hiểu và được giới thiệu dự án Khu dân cư 5B thuộc sở hữu của Công ty L3 và được quyền bán lại cho khách hàng. Sau khi xem đất, ông C đồng ý mua 02 ô đất thuộc lô B37 và yêu cầu ký hợp đồng trực tiếp với chủ sở hữu lô đất này.

    Ngày 03/9/2018, ông C đến trụ sở Công ty H4 gặp T1, T. T1 và T giới thiệu T là chủ sở hữu lô đất B37 và được quyền bán lô đất này cho khách hàng. Ông C ký 02 (hai) Hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà ở gắn liền với đất với đại diện Công ty L3 là Võ Đức Hoàng T với chức danh là Chủ tịch hội đồng thành viên ký tên bán. Hợp đồng thể hiện: Công ty L3 chuyển nhượng cho ông C 02 ô đất số 57, 58 thuộc lô B37, diện tích mỗi ô 150m² kèm nhà ở trên đất do Công ty L3 xây dựng với giá 2.650.000.000 đồng (hai tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, ông C đã giao cho T số tiền 1.750.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) theo 02 (hai) phiếu thu cùng ngày 03/9/2018 có đóng dấu Công ty L3 (Võ Đức Hoàng T ký tên tại vị trí giám đốc). Sau đó, T đưa T1 150.000.000 đồng, đây là tiền T1 hưởng lợi sau khi bán đất được cho khách hàng.

  7. Võ Đức Hoàng T thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Lại Văn T2:
  8. Tháng 08/2018, ông Lại Văn T2 có nhu cầu mua đất và nhà ở nên đến Công ty L3 gặp Võ Đức Hoàng T. Sau khi nghe T giới thiệu 02 (hai) lô đất B37, B38 thuộc dự án Khu dân cư 5B là của Công ty T9 Ngày 08/8/2018, ông T2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất với T. Hợp đồng thể hiện: Công ty L3 chuyển nhượng cho ông T2 ô đất số 40 lô B37, diện tích 332,5 m² kèm nhà ở trên đất do Công ty L3 xây dựng với giá 3.300.000.000 đồng (ba tỷ ba trăm triệu đồng). Ông T2 đã thanh toán cho T 3.200.000.000 đồng theo phiếu thu ngày 08/8/2018 với số tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng) và chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản T ngày 13/9/2019, 1.000.000.000 (một tỷ đồng) và phiếu thu ngày 17/10/2018, 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Võ Đức Hoàng T; hình dấu trên các tài liệu, vật chứng đã thu giữ. Tại kết luận giám định số: 17/GĐ - PC09 ngày 20/01/2020; 94/GĐ - PC09 ngày 20/3/2020; 88/GĐ - PC09 ngày 31/3/2020; 382/GĐ - PC09 ngày 30/9/2020; 501/GÐ - PC09 ngày 27/11/2020; 26/GÐ - PC09 ngày 01/3/2020 kết luận các chữ ký, chữ viết họ tên, dấu vân tay của Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1, ông Lê Quang H3 và mẫu dấu của Công ty L3, Công ty H4 trên các tài liệu có liên quan trong vụ án là do T, T1 và ông H3 ký, viết, in ra và do con dấu của Công ty L3, Công ty H4 đóng dấu.

Các bị hại yêu cầu Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1 trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Bị cáo T đã trả lại cho ông Nguyễn Doanh T5 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), ông Tạ Công T6 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), ông Đinh Văn C 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và ông Lại Văn T2 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Bị cáo T1 đã trả lại cho ông Tạ Công T6 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); ngoài ra ngày 17/3/2021 T1 đã nộp vào tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và ngày 01/6/2022 nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) để khắc phục hậu quả.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 91/2023/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Võ Đức Hoàng T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2020.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T1 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Buộc bị cáo Võ Đức Hoàng T trả lại cho ông Lại Văn T2 số tiền 3.150.000.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về trách nhiệm dân sự với các bị hại khác, vấn đề liên quan đến xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, bị cáo Vũ Ngọc T1 có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo không khách quan, toàn diện, không có căn cứ pháp luật, gây oan sai cho bị cáo, xin được xem xét sửa bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, bị hại Lại Văn T2 có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Quá trình điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Dương có nhiều dấu hiệu sai phạm, bỏ lọt tội phạm đối với ông Lê Quang H3, đối với bà L2 (là nhân viên của công ty B), đối với ông Lê Quang T3 (là chồng của bị cáo Võ Đức Hoàng T). Không giao Bản kết luận điều tra, cáo trạng cho bị hại. Bản án hình sự sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Đức Hoàng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng tuyên mức hình phạt là quá nhẹ so với mức độ và hành vi vi phạm của bị cáo. Do đó, bị hại đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo T; trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với ông H3, bà L2, ông T3; buộc bị cáo T, Công ty L3, ông H3, ông T3, bà L2 liên đới trả cho ông số tiền 3.150.000.000đồng; buộc bị cáo T, Công ty L3, ông H3, ông T3 liên đới trả số tiền bồi thường thiệt hại do chênh lệch giá đất số tiền 1.482.000.000đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo Vũ Ngọc T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kêu oan. Thực tế, bị cáo là người quyết định toàn bộ và điều hành Công ty H4. Bị cáo nêu lý do bản thân bị cáo chỉ là người môi giới cho Công ty L3 để bán các lô đất, bị cáo không hề có ý định chiếm đoạt tài sản của các bị hại nên không thể phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Bị cáo Võ Đức Hoàng T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên xử. Nếu xác định hành vi của Vũ Ngọc T1 có tội thì xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1 vì vụ việc này do bị cáo T thực hiện, chỉ đạo toàn bộ. Bị cáo chịu trách nhiệm một mình, không liên quan đến ai.
  • Bị hại Lại Văn T2 đã thỏa thuận với bị cáo Võ Đức Hoàng T, ông Lê Quang H3 đại diện cho Công ty L3 và ông Lê Quang T3 về trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường toàn bộ cho ông T2 số tiền 3.150.000.000 đồng và bị hại T2 rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa.
  • Ông Lê Quang H3, đại diện Công ty L3 thừa nhận có lỗi trong việc ủy quyền cho bị cáo T, đồng ý cùng công ty B2 lại cho bị hại Lại Văn T2.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

Về nội dung:

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngọc T1: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Ngọc T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện, bị cáo với vai trò giúp sức cho bị cáo T, hưởng lợi từ số tiền T lừa đảo nên hành vi phạm tội của bị cáo là không oan.

Về kháng cáo của bị hại Lại Văn T2: Tại phiên tòa, bị hại, bị cáo trang cùng ông H3, ông T3 đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại và bị hại đã rút toàn bộ kháng cáo. Xét đây là sự tự nguyện, không trái pháp luật nên đề nghị chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Vũ Ngọc T1; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại Lại Văn T2.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Ngọc T1 nêu quan điểm tranh luận: Việc Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng chưa đưa ra được các căn cứ chứng minh bị cáo có ý thức lừa đảo mà đây chỉ là sự việc tranh chấp dân sự thông thường. Thực chất dự án Khu dân cư E là một dự án ảo, không có thật. Thậm chí, B3 cũng chưa được phép bán các lô đất này vì còn phải xây nhà mới bán được, các công ty L4, Lê T8 cũng không được phép bán. Nếu cho rằng đất này đã có chủ sở hữu thì các công ty trên và B3 cũng là đồng phạm trong vụ án này. Công ty của bị cáo T đã bị B3 hủy hợp đồng nguyên tắc nhưng bị cáo không thông báo cho bị cáo T1 biết nên việc bị cáo T1 nghĩ hợp đồng nguyên tắc còn giá trị pháp lý là đúng nên không có sự việc bị cáo T1 có ý thức lừa đảo. Bản thân bị cáo T1 nghĩ rằng đất đã được ủy quyền toàn bộ cho Công ty L3 của bị cáo T nên khi chưa được giao nền, bị cáo còn chủ động dẫn các bị hại đến gặp trực tiếp bị cáo T để trao đổi. mặc khác giữa bị cáo T1 và bị cáo T không có trao đổi bàn bạc gì với nhau nên không có căn cứ chứng minh bị cáo T1 có ý thức lừa đảo bị hại.

- Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Trong vụ án này, bị cáo T là người chủ mưu, cầm đầu; bị cáo T1 là người giúp sức. Chính sự không trung thực trong ký kết các hợp đồng đặt cọc của bị cáo, đã tạo điều kiện cho bị cáo T chiếm đoạt tiền của các bị hại. Bản thân bị cáo T1 cũng đã hưởng lợi từ hành vi lừa đảo này với số tiền năm trăm triệu đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do mình gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17 tháng 8 năm 2023, bị cáo Vũ Ngọc T1 có làm đơn kháng cáo và ngày 18 tháng 8 năm 2023, bị hại Lại Văn T2 có làm đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo T1 và bị hại T2 làm và nộp trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc T1:

[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo Võ Đức Hoàng T:

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Đức Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của những người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2018, bị cáo Võ Đức Hoàng T biết rõ việc chưa ký hợp đồng chuyển nhượng với Công ty B thì Công ty L3 không phải là chủ sử dụng lô đất B37, B38; đồng thời Hợp đồng nguyên tắc số 24/HĐNT/2018 ngày 16/7/2018 giữa Công ty L3 với Công ty B để nhận chuyển nhượng 02 lô đất số B37, B38 đã hết hiệu lực nhưng bị cáo T vẫn giao cho Công ty H4 môi giới cho khách hàng và đưa ra thông tin gian dối lô B37, B38 thuộc quyền sở hữu của Công ty L3 để bán cho khách hàng nhằm chiếm đoạt 7.650.000.000 đồng (bảy tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) của ông Nguyễn Doanh T5, ông Tạ Công T6, ông Đinh Văn C và ông Lại Văn T2. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngọc T1:

[2.2.1] Công ty H4 được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu số 7302673114, ngày 11/6/2018 do bà Lâm Thị Thúy L1 làm Giám đốc, đại diện theo pháp luật.

[2.2.2] Ngày 25/8/2018, Công ty L7 ông Lê Xuân Đ làm Giám đốc, đại diện theo pháp luật, ký Hợp đồng nguyên tắc số 05/HĐNT/2018 với Công ty B về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở công nhân tại Khu dân cư E để nhận chuyển nhượng hai lô đất B37 và B38 do Công ty B làm chủ đầu tư. Do Công ty L4 không thanh toán theo quy định nên hợp đồng giữa hai bên đã hết hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Ngày 16/7/2018, Công ty L3 do ông Lê Quang H3 làm Giám đốc, đại diện theo pháp luật, ký Hợp đồng nguyên tắc số 24/HĐNT/2018 với Công ty B để nhận chuyển nhượng hai lô đất B37 và B38, trong đó có nội dung trong thời hạn 15 ngày làm việc nếu Công ty L3 không thanh toán đủ 95% giá trị hợp đồng với số tiền 47.234.000.000 đồng thì hợp đồng đương nhiên hết hiệu lực và Công ty L3 đã vi phạm hợp đồng nên hai bên cũng chấm dứt hợp đồng nguyên tắc nêu trên. Có nghĩa rằng cã hai Công ty L4 và Lê T8 đều chưa đủ điều kiện chuyển nhượng hai lô đất B37 và B38.

[2.2.3] Ngày 10/6/2018, ông Lê Xuân Đ ký Hợp đồng ủy quyền thuê, cho thuê, mua, bán nhà đất với Vũ Ngọc T1. Nội dung hợp đồng giao cho Công ty H4 do T1 làm Tổng giám đốc được môi giới tìm kiếm khách hàng chuyển nhượng hai lô đất B37 và B38. Tuy nhiên, tại thời điểm này T1 không phải là Tổng giám đốc, không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty H4. Đồng thời, theo hợp đồng nguyên tắc được ký giữa Công ty L4 và Công ty B thì trong thời hạn 15 ngày làm việc (đến ngày 17/6/2018) nếu Công ty L4 không thanh toán đủ 95% giá trị hợp đồng với số tiền 47.234.000.000 đồng thì hợp đồng đương nhiên hết hiệu lực. Vũ Ngọc T1 biết rõ theo hợp đồng nguyên tắc thì ông Đ không đủ điều kiện chuyển nhượng đất nhưng ngày 10/6/2018 vẫn ký hợp đồng ủy quyền để môi giới, tìm kiếm khách hàng để bán hai lô đất trên.

Ngày 24/6/2018 (trước ngày Công ty L3 ký hợp đồng nguyên tắc với Công ty B) Công ty H4 do Vũ Ngọc T1 đại diện ký hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Doanh T5 để chuyển nhượng hai ô số 60 và 61 tại lô B37 với số tiền cọc hai lần T1 nhận là 700.000.000 đồng. Số tiền này T1 không chuyển cho Công ty L8 chuyển cho Công ty T9 Ngoài ra, trong tháng 7/2018, Vũ Ngọc T1 còn ký hợp đồng đặt cọc với ông Tạ Công T6 và ông Đinh Văn C.

[2.2.4] Trong các hợp đồng đặt cọc nêu trên, Vũ Ngọc T1 nhận mình là Giám đốc, ghi nhận các ô đất chuyển nhượng thuộc quyền sở hữu của Công ty H4 và dự án là “Khu nhà ở L, B”. T1 cho rằng do nhân viên của T1 tự ghi, bị cáo không đọc lại và ký nhầm.

[2.2.5] Từ những hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Ngọc T1. Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm ký hợp đồng ủy quyền với Công ty L4 và Công ty L3 thì bị cáo T1 không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty H4. Trên hợp đồng đặt cọc ký với các bị hại, bị cáo T1 đã gian dối xác nhận quyền sử dụng đất của dự án thuộc quyền sở hữu của Công ty H4. Khi gặp các bị hại, bị cáo T1 đều giới thiệu là giám đốc Công ty H4 để tạo niềm tin cho các bị hại, trong khi đó bà Lâm Thị Thúy L1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Đồng thời, tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc và môi giới cho ông Nguyễn Doanh T5, ông Tạ Công T6, ông Đinh Văn C thì bị cáo Vũ Ngọc T1 biết rõ lô B37, B38 không thuộc quyền sở hữu của Công ty L3 và Lê G, Công ty L3 và Lê Gia c đủ điều kiện chuyển nhượng đất (Hợp đồng nguyên tắc giữa Công ty L3, Lê G và Công ty B đã hết hiệu lực) nhưng bị cáo vẫn đưa ra thông tin gian dối cam kết đúng sự thật về quyền sử dụng đất với ông T5, ông T6 và ông C giúp sức bị cáo T chiếm đoạt của các bị hại số tiền 4.450.000.000 đồng, trong đó T1 đã hưởng lợi số tiền 550.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Võ Đức Hoàng T và Vũ Ngọc T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo T1.

[3] Hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin lẫn nhau trong nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng vì động cơ tư lợi mà các bị cáo đã cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm các bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, bị cáo T với vai trò là đầu vụ đưa ra thông tin gian dối với bị hại nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại thông qua ký hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất khi chưa có đất và tài sản gắn liền với đất. Đối với bị cáo T1 giúp sức cho bị cáo T đưa ra các thông tin gian dối quyền sử dụng đất là của Công ty H4, đồng thời bị cáo biết hợp đồng nguyên tắc giữa Công ty L3, Công ty L4 và Công Ty B hết hiệu lực nhưng bị cáo vẫn ký hợp đồng đặt cọc nhận tiền của bị hại giúp sức cho bị T chiếm đoạt của các bị hại tổng cộng 4.450.000.000 đồng và thu lợi bất chính 550.000.000 đồng.

[4] Xét kháng cáo của bị hại Lại Văn T2.

Tại phiên tòa bị cáo T, ông Lê Quang H3 đại diện cho Công ty L3, ông Lê Quang T3 và bị hại Lại Văn T2 thỏa thuận sẽ trả lại cho bị hại T2 số tiền 3.150.000.000 đồng và lãi suất như sau: Tháng 02/2025 trả một tỷ đồng và lãi suất 5%/năm từ ngày 04/7/2024 đến tháng 02/2025. Từ tháng 02/2025 đến tháng 12/2025 trả số tiền còn lại 2.150.000.000 đồng và lãi suất tính theo lãi suất Ngân hàng tại thời điểm trả nợ. Theo đó, bị hại T2 rút lại toàn bộ kháng cáo.

Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và tự nguyện rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận và căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vấn đề trên.

[5] Đối với Công ty L3, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 11/8/2022, Hội đồng xét xử sơ thẩm ra Quyết định số 31/2022/HSST-QĐ trả hồ sơ điều tra bổ sung trong đó đề nghị xem xét về hành vi của nhân viên Công ty B, ông Lê Quang H3 – Giám đốc Công ty L3, nhưng Cơ quan điều tra có Bản kết luận điều tra bổ sung cho rằng ông H3 chỉ làm theo yêu cầu của bị cáo T, không có bàn bạc, không có trục lợi nên không xem xét. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử xử vụ án, ông Lê Quang H3 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự về “Giới hạn của việc xét xử”, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét hành vi của ông H3 là có căn cứ. Xét thấy, Công ty L3 được thành lập vào năm 2009, vốn điều lệ là 09 tỷ đồng, nhưng qua điều tra xác minh thì số vốn này chỉ trên giấy tờ, thực tế không có tiền và không ai góp vốn vào, Công ty L3 không có tài sản nào (hồ sơ bút lục số 1505). Ông Lê Quang H3 đã có hành vi ký khống với tư cách là Giám đốc Công ty để bị cáo T thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của các bị hại, là có dấu hiệu tội phạm. Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, thu thập chứng cứ pháp lý về Công ty L3 và các thành viên công ty để tránh bỏ lọt tội phạm, cũng như làm rõ số tiền bị cáo T đã chuyển trả nợ, làm từ thiện (theo lời bị cáo khai) có phải là tiền do phạm tội mà có hay không để kịp thời thu hồi, giao trả cho người bị hại.

[6] Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo T1 kháng cáo kêu oan nhưng không có tình tiết chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình, cấp sơ thẩm xét xử là đúng tội danh đối với bị cáo. Bị hại T2 đã thỏa thuận trách nhiệm dân sự và rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại T2, ghi nhận sự thỏa thuận nêu trên. Ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo T1 chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Vũ Ngọc T1.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bị hại Lại Văn T2.

Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 91/2023/HS-ST, ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần trách nhiệm dân sự.

  1. Tuyên bố các bị cáo Võ Đức Hoàng T, Vũ Ngọc T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Đức Hoàng T.
    2. Xử phạt bị cáo Võ Đức Hoàng T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2020.

    3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vũ Ngọc T1.
    4. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T1 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lại Văn T2 như sau:
  4. Bị cáo Võ Đức Hoàng T, Công ty trách nhiệm hữu hạn L3, ông Lê Quang H3, ông Lê Quang T3 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Lại Văn T2 số tiền 3.150.000.000 (ba tỷ một trăm năm mươi triệu) đồng và lãi suất, thời gian trả như sau: Tháng 02/2025 trả một tỷ đồng và lãi suất 5%/năm từ ngày 04/7/2024 đến tháng 02/2025. Từ tháng 02/2025 đến tháng 12/2025 trả số tiền còn lại 2.150.000.000 (hai tỷ một trăm năm mươi triệu) đồng và lãi suất tính theo lãi suất Ngân hàng tại thời điểm trả nợ.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Võ Đức Hoàng T chịu 52.517.000 (năm mươi hai triệu năm trăm mười bảy ngàn) đồng, bị cáo Vũ Ngọc T1 chịu 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng, ông Lê Quang H3 chịu 31.666.000 (ba mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn) đồng, ông Lê Quang T3 chịu 31.666.000 (ba mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn) đồng.
  6. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Ngọc T1 chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
  7. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NVK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hồ Tâm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 536/2024/HS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 536/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger