|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 535/2024/DS-PT Ngày: 13/6/2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hương
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Bà Phạm Thị Kim
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 tháng 5, 04 và 13 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 477/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1490/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 5148/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số A khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1968, địa chỉ: Số C đường P, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/12/2020 tại Văn phòng C2, có mặt).
1.2. Ông Phạm Quới E (sinh năm: 1966, chết năm 2021);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quới E:
1.2.1. Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số A ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
1.2.2. Bà Phạm Thị Ngọc C1, sinh năm: 1992; địa chỉ: Số A khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
1.2.3. Phạm Thế S, sinh năm: 1997; địa chỉ: Số A khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1 và ông Phạm Thế S: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1968; địa chỉ: Số C đường P, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền lập ngày 26/8/2022 tại Văn phòng C3, có mặt).
1.2.4. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số A khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn:
Ông Đỗ Đắc Đ1, sinh năm: 1979; địa chỉ: Nhà không số tổ F, ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Nhà không số, tổ F, ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
3.2. Ông Nguyễn Công T2, sinh năm: 1992; địa chỉ: Số E tổ A, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người kháng cáo: Ông Đỗ Đắc Đ1 – bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2020 (bút lục 44), đơn sửa đổi và bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 11/01/2021 (bút lục 43), bản tự khai, biên bản không hòa giải được và tại phiên tòa thì nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:
Vào ngày 29/02/2020, tại Văn phòng C2, bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ1 có ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 641, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.000m² tọa lạc tại xã V, huyện B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 870187, số vào sổ cấp GCN: CH 00814 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 04/10/2010, đăng ký thay đổi ngày 31/12/2011 và ngày 18/12/2017. Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 3.700.000.000 đồng, số tiền đặt cọc là 700.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận ngày 29/5/2020, bên nhận chuyển nhượng thanh toán số tiền còn lại là 3.000.000.000 đồng, đồng thời các bên hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Đến hạn thỏa thuận, ông Đ1 không thực hiện việc thanh toán số tiền còn lại và hoàn tất thủ tục sang tên. Nhiều lần ông E và bà Đ yêu cầu ông Đ1 thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nhưng ông Đ1 từ chối, không thực hiện.
Xét thấy ông Đ1 vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đặt cọc nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc số 000835, quyển số 1 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C2 vào ngày 29/02/2020 về việc đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên. Do ông Đ1 vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc nên ông Đ1 phải chịu mất cọc là số tiền cọc là 700.000.000 đồng mà ông Đ1 đã đặt cọc cho ông Đ và bà E.
Ông Đỗ Đắc Đ1 (bị đơn) trình bày tại bản tự khai ngày 28/12/2021 (bút lục 47) như sau:
Vào ngày 29/02/2020, ông Đ1 có đặt cọc cho bà Phạm Thị Đ số tiền 700.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất số 641, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.000m² tọa lạc tại xã V. Do diện tích đất bị lấn chiếm khoảng 30m², đã xây dựng nhà nên ông Đ1 yêu cầu bà Đ giải quyết trước khi ông thanh toán tiền. Sau đó, ông Đ1 có chuyển thêm cho bà Đ số tiền 200.000.000 đồng thông qua tài khoản con rể bà Đ là ông Nguyễn Công T2. Nay ông Đ1 yêu cầu bà Đ tiếp tục thực hiện hợp đồng và thực hiện đúng cam kết khi đặt cọc.
Ông Nguyễn Công T2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày:
Ông T2 và ông Đỗ Đắc Đ1 có quen biết nhau từ trước và được biết ông Đ1 có mua của ba mẹ vợ ông là bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Quới E lô đất nên đã bàn bạc với vợ hỏi mượn trước ông Đ1 số tiền 200.000.000 đồng. Ông Đ1 đồng ý và có chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của ông hai lần tiền, với tổng số tiền 200.000.000 đồng. Việc vay mượn này, ông không nói cho bà Đ và ông E biết và cũng không đưa số tiền này cho bà Đ và ông E. Việc vay mượn là việc riêng của cá nhân ông với ông Đ1, không liên quan gì đến việc mua bán đất và thanh toán tiền giữa ông Đ1 với bà Đ và ông E, khi nào ông Đ1 yêu cầu trả lại thì ông sẽ hoàn trả số tiền trên cho ông Đ1.
Bà Nguyễn Thị Mỹ T1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không thể hiện ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 477/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E (ông Phạm Quới E có người thừa kế: Bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Phạm Thế S) đối với ông Đỗ Đắc Đ1 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
1.1 Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ký ngày 29/02/2020 giữa bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ1 về việc đặt cọc để chuyển nhượng phần đất có diện tích 1000 m², thuộc thửa 614, tờ bản đồ số 12, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng đặt cọc ký ngày 29/02/2020 giữa bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ1 được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 000835, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD).
1.2 Số tiền 700.000.000 đ (bảy trăm triệu đồng) mà ông Đỗ Đắc Đ1 đã đặt cọc cho ông Phạm Quới E và bà Phạm Thị Đ (theo Hợp đồng đặt cọc ký ngày 29 tháng 02 năm 2020 giữa ông Phạm Quới E, bà Phạm Thị Đ và ông Đỗ Đắc Đ1) thuộc về
bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Quới E (ông Phạm Quới E có người thừa kế: Bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Phạm Thế S).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn – ông Đỗ Đắc Đ1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.
Người kháng cáo – Ông Đỗ Đắc Đ1 cung cấp các tài liệu sau:
- Giấy nhận cọc viết tay lập ngày 23/02/2020 giữa bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ1. Theo giấy nhận cọc trên, ông Đ1 đặt cọc cho bà Đ, ông E số tiền 300.000.000 đồng.
- Giấy ủy quyền lập tại Văn phòng C2 ngày 29/02/2020, số công chứng 000836 quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Quới E ủy quyền cho ông Đỗ Đắc Đ1 thực hiện xin phép và tiến hành san lấp thửa đất sẽ chuyển nhượng cho ông Đ1.
- Hợp đồng thuê san lấp mặt bằng số 68/HDSL/DDD-ASMP ngày 05/3/2020 giữa ông Đỗ Đắc Đ1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Á, nội dung thực hiện san lấp thửa đất chuyển nhượng giữa ông Đ1 và bà Đ, ông E với tổng giá trị hợp đồng là 300.000.000 đồng.
Ông Đ1 trình bày:
Ông đề nghị được tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Ông đã giao cho bà Đ hai lần đặt cọc ngày 23 và 29/02/2020 tổng cộng là 1.000.000.000 đồng, không lập biên bản giao nhận số tiền cọc. Ông chuyển số tiền 200.000.000 đồng cho ông T2 là theo yêu cầu của bà Đ, trong đó có 100.000.000 đồng là tiền lãi ông trả cho bà Đ do chậm thanh toán hợp đồng. Ông đã thực hiện san lấp hết số tiền theo hợp đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bà Đ trả cho ông số tiền thực hiện san lấp mặt bằng là 300.000.000 đồng.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Đ có ông Lê Văn T đại diện trình bày:
Bà Đ không đồng ý với yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng của ông Đ1. Bà thừa nhận chỉ nhận số tiền đặt cọc hai lần là 700.000.000 đồng; bà không yêu cầu ông Đ1 chuyển cho ông T2 số tiền 200.000.000 đồng và bà không nhận số tiền này. Việc san lấp là do ông Đ1 làm, bà không đồng ý trả tiền cho ông Đ1; bà và ông E đã làm giấy hủy văn bản ủy quyền cho ông Đ1 thực hiện san lấp đất tại Văn phòng C2 Hương ngày 01/9/2020. Bà đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Phạm Thị Đ cung cấp tài liệu sau:
Văn bản chấm dứt “Giấy ủy quyền” do bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Qưới E1 lập tại Văn phòng C2 ngày 01/9/2020, số công chứng 003680, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung chấm dứt việc
thực hiện giấy ủy quyền số công chứng 000836 quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/02/2020 nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Công T2 trình bày:
Số tiền 200.000.000 đồng là tiền ông mượn của ông Đ1, hoàn toàn không liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đ, ông E1 và ông Đ1. Ông sẽ trả lại ông Đ1 khi ông Đ1 yêu cầu.
Ông Võ Đức M – Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Á trình bày:
Ông có thực hiện san lấp đất cho ông Đ1 tại xã V, huyện B, với số tiền theo hợp đồng là 300.000.000 đồng, ông Đ1 đã thanh toán cho ông 200.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện thủ tục, trình tự theo đúng quy định của pháp luật. Các đương sự được đảm bảo các quyền lợi và được thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về dân sự.
- Về nội dung: Do bị đơn kháng nhưng không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 477/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Mỹ T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
[2.1]
Theo các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án, sự thừa nhận của các đương sự, thấy rằng:
Nguồn gốc lô đất chuyển nhượng có diện tích 1000 m², thuộc thửa 614, tờ bản đồ số 12, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Quới E và bà Phạm Thị Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 870187, số vào sổ cấp GCN: CH 00814 ngày 04/10/2010, cập nhật sang tên cho bà Phạm Thị Đ ngày 31/12/2011. Hợp đồng đặt cọc ngày 29/02/2020 được ký kết giữa bà Đ, ông E và ông Đ1 được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 000835, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD có nội dung thực hiện đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mục đích đặt cọc là để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng và
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với lô đất nói trên với giá thỏa thuận là 3.700.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai năm 2013, giao dịch giữa các bên phù hợp điều kiện về nội dung và hình thức, có cơ sở xác định hợp đồng đặt cọc ký kết ngày 29/02/2020 giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ và các bên phải thực hiện đúng theo thỏa thuận. Thực hiện hợp đồng, ông Đ1 đã đặt cọc và ông E, bà Đ nhận cọc số tiền 700.000.000 đồng.
Hợp đồng có nội dung “Đến ngày 29/5/2020, Bên B thanh toán cho bên A số tiền còn lại là 3.000.000.000 đ (ba tỷ đồng), đồng thời các bên hoàn tất thủ tục công chứng “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với thửa đất nêu trên tại tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, đến ngày 29/5/2020, bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn lại là 3.000.000.000 đ (ba tỷ đồng); do đó, bị đơn đã vi phạm thỏa thuận nội dung trong hợp đồng đặt cọc được ký kết ngày 29/02/2020.
Bị đơn cho rằng ông không thực hiện hợp đồng được là do phần đất của nguyên đơn bị lấn chiếm khoảng 30m², có xây dựng nhà, ngoài lời trình bày thì bị đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thể hiện phần đất bị thiếu diện tích và có xây dựng nhà trên đất. Cấp sơ thẩm đã thực hiện xem xét thẩm định tại chỗ và lập bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thực hiện chứng minh phần đất chuyển nhượng giữa các bên có diện tích 1000m², có hiện trạng là đất trống, không có công trình xây dựng trên đất. Việc bị đơn không tiếp tục thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng là do bị đơn không muốn và không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng chứ không phải lý do phần đất chuyển nhượng bị thiếu diện tích và có tranh chấp. Do đó, việc bị đơn không tiếp tục thực hiện hợp đồng là hoàn toàn do lỗi của bị đơn và phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đơn phương chấm dứt, hủy bỏ thực hiện hợp đồng của mình. Căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đặt cọc thì bị đơn phải chịu mất số tiền đã đặt cọc là phù hợp.
[2.2]
Đối với số tiền 200.000.000 đồng, ông Đ1 chuyển vào tài khoản Ngân hàng của ông Nguyễn Công T2, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Đ1 cho rằng đây là số tiền ông thanh toán tiền chuyển nhượng đất cho ông E, bà Đ. Bà Đ và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông E cho rằng: Ông E và bà Đ không biết cũng như không có nhận số tiền 200.000.000 đồng từ ông Đ1 chuyển thông qua ông T2; ông E và bà Đ không yêu cầu ông Đ1 chuyển tiền cho ông bà thông qua ông T2. Ông T2 xác nhận có nhận số tiền này từ ông Đ1 nhưng đây là số tiền ông T2 vay của ông Đ1. Đồng thời, căn cứ vào bản sao kê tài khoản của ông Nguyễn Công T2 (bút lục 28) thể hiện ông Đ1 chuyển khoản vào tài khoản của ông T2 số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 02/7/2020 và ngày 06/7/2023 (sau thời điểm ngày 29/5/2020) ngày theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ông Đ1 phải thanh toán cho ông E và bà Đ số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).
Đồng thời, đối với số tiền này, các đương sự trong vụ án không có yêu cầu Tòa án giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét giải quyết đối
với số tiền 200.000.000 đồng mà ông Đỗ Đắc Đ1 đã chuyển vào tài khoản ông Nguyễn Công T2 là phù hợp quy định pháp luật.
Cấp sơ thẩm đã thông báo cho bị đơn để bị đơn cung cấp chứng cứ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình nhưng bị đơn không cung cấp được. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng mình đã giao cho nguyên đơn hai lần tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không thừa nhận, tại Bản tự khai ngày 28/12/2021 (bút lục 47) bị đơn khai nhận “Ngày 29/02/2020, tôi có đặt cọc cho bà Phạm Thị Đ số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng)” và hoàn toàn không có chứng cứ chứng minh cho số tiền 300.000.000 đồng bị đơn cho rằng đã giao cho nguyên đơn. Về yêu cầu nguyên đơn hoàn trả số tiền san lấp đất 300.000.000 đồng, bị đơn không có yêu cầu giải quyết trong quá trình xét xử tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chỉ có thể xem xét, giải quyết các yêu cầu cấp sơ thẩm đã xét xử trong phạm vi xét xử phúc thẩm. Tuy bị đơn có cung cấp thêm chứng cứ mới nhưng các chứng cứ này hoàn toàn không chứng minh được cho yêu cầu kháng cáo của bị đơn, không làm thay đổi bản chất của vụ án. Cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ, xem xét đánh giá chứng cứ khách quan toàn diện; do đó, quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật.
Từ những lập luận trên, xét không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 477/2023/DS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí, cấp sơ thẩm đã căn cứ các quy định pháp luật quyết định án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng phù hợp; do đó, phần án phí sơ thẩm giữ nguyên. Do không chấp nhận kháng cáo của bị đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự năm 2014,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Đỗ Đắc Đ1, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 477/2023/DS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E (ông Phạm Quới E có người thừa kế: Bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Phạm Thế S) đối với ông Đỗ Đắc Đ1 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
1.1. Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ký ngày 29/02/2020 giữa bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ1 về việc đặt cọc để chuyển nhượng phần đất có diện tích 1000 m², thuộc thửa 614, tờ bản đồ số 12, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng đặt cọc ký ngày 29/02/2020 giữa bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ1 được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 000835, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD).
1.2. Số tiền 700.000.000 đ (bảy trăm triệu đồng) mà ông Đỗ Đắc Đ1 đã đặt cọc cho ông Phạm Quới E và bà Phạm Thị Đ (theo Hợp đồng đặt cọc ký ngày 29 tháng 02 năm 2020 giữa ông Phạm Quới E, bà Phạm Thị Đ và ông Đỗ Đắc Đ1) thuộc về bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Quới E (ông Phạm Quới E có người thừa kế: Bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Phạm Thế S).
2. Án phí và chi phí tố tụng:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn trả cho bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Phạm Thế S 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) là số tiền tạm ứng án phí mà bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Quới E đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0080898 ngày 25/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
Ông Đỗ Đắc Đ1 chịu án phí dân sự sơ thẩm 32.300.000 đồng (ba mươi hai triệu ba trăm ngàn đồng).
2.2. Về chi phí tố tụng:
Ông Đỗ Đắc Đ1 có trách nhiệm trả bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, Ông Phạm Thế S 10.408.290 đ (mười triệu bốn trăm lẻ tám nghìn hai trăm chín mươi đồng) là số tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Quới E đã nộp tạm ứng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Ông Đỗ Đắc Đ1, bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1, Ông Phạm Thế S thực hiện việc giao và nhận tiền tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ khi bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc C1 và ông Phạm Thế S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đỗ Đắc Đ1 chưa thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì ông Đỗ Đắc Đ1 phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2.3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đỗ Đắc Đ1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Đ1 đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0020427 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
Các bên Thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hương |
9
Bản án số 535/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 535/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ Hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ký ngày 29/02/2020 giữa bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Quới E và ông Đỗ Đắc Đ
