Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 535/2025/HS-PT

Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh
Các Thẩm phán : Bà Nguyễn Thị Thanh Hà
: Ông Phạm Năng Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Phong - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 370/2025/TLPT-HS ngày 22/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 352/2025/QĐXXPT-HS ngày 25/4/2025 đối với bị cáo Trần Minh N do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 213/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

Họ và tên: TRẦN MINH N, sinh ngày 21/11/1994; Trú tại: Số H ngõ B N, phường P, quận T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Trần Văn Đ; Họ tên mẹ: Trần Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ( Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Thị Giáng K – Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).

Người bị hại có kháng cáo: Anh Phạm Hữu H, sinh năm 1976

Trú tại: Số D, ngõ B N, Phương L, T, Hà Nội (Có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của người bị hại: Bà Vũ Thị Thu H1, sinh năm 1981; trú tại: P, nhà B, khu đô thị T, phường T, Cầu G, Hà Nội (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Ông Phương Hữu T1 – Luật sư Văn phòng L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2000 gia đình ông Nguyễn Hữu H2 (nhà số F ngõ B N) và gia đình ông Trần Văn Đ (Nhà số H ngõ B N) có mâu thuẫn tranh chấp đất đai, UBND phường P đã tiến hành hoà giải nhưng không thành. Đầu tháng 6/2022, ông Phạm Hữu H3 khởi công xây dựng, sửa chữa nhà số F ngõ B N, phường P, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy phép xây dựng số 000.00.88.H26-210716-0005 ngày 26/7/2021 do UBND quận T cấp, ông Trần Văn Đ không đồng ý cho gia đình ông H3 thi công vì tranh chấp chưa được giải quyết.

Khoảng 22 giờ 00 ngày 10/6/2022, gia đình ông H3 tiến hành đổ bê tông trần nhà tầng 3 (anh Phạm Hữu H là em ruột ông H3 đứng phụ giúp, giám sát thi công) thì vợ chồng ông ông Đ và các con gồm bà ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị T, anh Trần Minh N, chị Trần Minh A lên tầng 5 của ngôi nhà số H ngõ B N nói vọng xuống yêu cầu nhà ông H3 không tiếp tục đổ trần tầng 3 nhưng ông H3 không đồng ý. Thấy vậy, ông Đ cùng bà T, N dùng vòi xịt phun nước và dùng chậu đổ nước từ tầng 5 nhà số H ngõ B N xuống trần tầng 3 nhà ông H3 để ngăn cản không cho đổ bê tông, đồng thời Trần Minh A dùng điện thoại quay lại sự việc đang xảy ra. Thấy gia đình ông Đ đổ nước xuống khu vực đang thi công, anh Phạm Hữu H đang đứng trên tầng 3 nhà ông H3 đã to tiếng cãi nhau với các thành viên trong gia đình ông Đ, anh H nhặt 01(một) cây gậy gỗ, hình trụ tròn dài 3m ném nhiều lần lên tầng 5 nhà ông Đ về phía Trần Minh N. Ngay lúc đó, Trần Minh N lấy 01 (một) chậu bê tông (loại chậu trồng cây cảnh), hình trụ tròn, đường kính hai đáy là 40cm và 20cm, cao 25cm, bên ngoài sơn màu đỏ đứng tại tầng 5 nhà số H ngõ B N ném xuống phía anh H, trúng vào ngực anh H khiến anh H ngã xuống, sây sát vùng ngực trái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1277/GĐ-TTPY ngày 22/9/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y thể hiện:

“V. Phần khám giám định:

3. Cận lâm sàng: Cắt lớp vi tính lồng ngực 15/7/2022 của Trung tâm C (địa chỉ: số A ngõ A T - quận Đ - Hà Nội): gãy cũ không di lệch tại cung trước - bên các xương sườn 3,4,5,6,7 nửa ngực trái. Không thấy tổn thương trung thất và hai phổi.

4. Ngày 19/9/2022, giáo sư, tiến sĩ Phạm Minh T2 – Chủ tịch hội Đ1 đọc lại các phim:

- Xquang ngực ngày 11/6/2022 của Bệnh viện Đ2: Thấy rõ đường gãy mới không di lệch cung trước xương sườn 4 và 6 bên trái, nhu mô phổi sáng.

- Cắt lớp vi tính lồng ngực ngày 15/7/2022 của Trung tâm chuẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Đ3 (địa chỉ: số A ngõ A T - quận Đ - Hà Nội): Tổn thương gãy xương sườn không thấy can xương không di lệch cung trước 3 - 4 - 5 - 6 - 7. Nhu mô phổi sáng bình thường.

- Kết luận: Gãy mới do chấn thương các cung trước xương sườn 3 - 4 - 5 - 6 - 7 trái.

VI. Kết luận tại thời điểm giám định:

1. Gãy xương sườn 3,4,5,6,7 bên trái: 10%

2. Chạm thương phần mềm vùng ngực trái không sưng nề bầm tím, không có sẹo: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với chạm thương này.

3. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biên chứng của các thương tổn gãy xương sườn. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.

4. Cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.

Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 10% (mười phần trăm)”.

Anh Phạm Hữu H từ chối giám định bổ sung.

Tại cơ quan điều tra, Trần Minh N khai nhận hành vi ném chiếc chậu bê tông từ tầng 5 nhà ông Đ xuống phía anh H đứng phía dưới tầng 3 nhà ông H3, không biết có trúng người anh H hay không.

Trần Minh N khai bị xây xát ở ngón út tay trái do bị anh H ném gậy trúng, do vết thương không lớn, N không đi khám thương, từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hồ sơ tài liệu về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 13/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận

Thanh Xuân đã truy tố Trần Minh N về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số 174/BKL-CQĐT-ĐTTH ngày 27/6/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T nêu quan điểm giải quyết vụ án:

Bị can Trần Minh N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Thương tích ở tay trái của bị can N nêu trên không phải do anh Phạm Hữu H gây ra và không xác định được nguyên nhân bị can N bị thương tích. Do vậy cơ quan CSĐT – Công an quận T không có căn cứ để xử lý.

Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã tiến hành lập các biên bản làm việc và biên bản hỏi cung đối với bị cáo (có sự tham gia của người bào chữa) về việc kiểm tra đoạn video ghi nhận sự việc xảy ra ngày 10/6/2022 tại số F ngõ B N, P, T, Hà Nội, đều có nội dung bị cáo N xác nhận bị cáo không bị chiếc gậy của anh H ném trúng bị cáo, sau khi đã xem video (từ bút lục 403 đến 441), tuy nhiên khi ký biên bản hỏi cung ngày 10/6/2024 bị cáo ghi “tôi đã đọc lại việc trúng hay không trúng sẽ rõ các bên khác chứng minh (công an)”. Đồng thời, kết quả điều tra bổ sung còn có biên bản làm việc ngày 14/6/2024 tại Trung tâm P phản ánh nội dung “cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T có đưa Trần Minh N đến Trung tâm P để được tư vấn về các hoạt động giám định. Sau khi biết N chưa đi khám thương ở bất kỳ cơ sở y tế nào, Trung tâm P đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T hướng dẫn N đi khám thương để có hồ sơ y tế phục vụ cho việc giám định. Tuy nhiên sau đó không thấy N liên hệ với Trung tâm pháp y để cung cấp hồ sơ y tế và không thấy N đến Trung tâm P để giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T không gửi quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Trần Minh N cho Trung tâm P. Từ những căn cứ trên, Trung tâm P không giám định thương tích đối với Trần Minh N và không có kết luận giám định đối với N”.

Bản án hình sự sơ thẩm số 213/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Trần Minh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Hữu H số tiền 11.818.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 30/9/2024, bị hại là anh Nguyễn Hữu H4 có đơn kháng cáo đề nghị xét xử bị cáo Trần Minh N về tội giết người, huỷ án sơ thẩm, đồng thời kháng cáo về phần bồi thường dân sự.

Ngày 01/10/2024 bị cáo Trần Minh N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với nội dung cụ thể xin được hưởng án treo và xuất trình tài liệu mới thể hiện bị cáo thuộc đối tượng gia đình có công và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với nội dung huỷ án sơ thẩm để xét xử bị cáo N về tội giết người, đồng thời kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng tiền bồi thường dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Minh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không có căn cứ xét xử bị cáo về tội “Giết người” chưa đạt như yêu cầu kháng cáo của bị hại. Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm bị hại không nộp tài liệu chứng minh cho yêu cầu bồi thường thiệt hại, xét thương tích và hồ sơ khám chữa bệnh thì thực tế bị hại có đi khám điều trị thương tích do bị cáo N gây ra. Cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 11.818.000 đồng là có chưa phù hợp nên thấy cần tăng mức bồi thường cho phù hợp với chi phí thực tế.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo N xuất trình tài liệu mới thể hiện bị cáo thuộc đối tượng gia đình có công và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo N 6 (sáu) tháng tù là chưa nghiêm khắc.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333; 334; điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm a, b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại về hình thức; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, không chấp nhận yêu cầu giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án

treo của bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 213/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo Trần Minh N theo hướng tăng mức hình phạt tù và tăng mức bồi thường dân sự. Cụ thể

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 590 Bộ luật dân sự.

Phạt bị cáo Trần Minh N từ 9 – 12 tháng tù.

Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Trần Minh N phải bồi thường cho bị hại từ 8 -10 tháng lương cơ sở.

Luật sư Trần Thị Giáng K - Người bào chữa cho bị cáo N không nhất trí với phát biểu giải quyết vụ án của vị đại diện VKS về tăng hình phạt lên 9-12 tháng tù, luật sư cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn từ tranh chấp đất đai, bị hại cũng có lỗi trong sự việc xảy ra sự việc và đề nghị HĐXX áp dụng điểm e, h, i, s Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Luật sư Phương Hữu T1 – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không nhất trí với đề nghị của VKS, luật sư cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội Giết người. Giả sử cho rằng bị cáo N phạm tội Cố ý gây thương tích thì mức hình phạt đề xuất là quá nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, xét xử bị cáo và bị hại liên tục có khiếu nại, yêu cầu làm rõ những tình tiết của vụ án. Xét toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án này, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị hại, bị cáo có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Do có mâu thuẫn tranh chấp đất đai từ trước, Khoảng 22 giờ 00 ngày 10/6/2022, gia đình ông H3 tiến hành đổ bê tông trần nhà tầng 3 thì gia đình ông Đ dùng vòi xịt phun nước và dùng chậu đổ nước từ tầng 5 nhà số H ngõ B N xuống trần tầng 3 nhà ông H3 để ngăn cản không cho đổ bê tông, A Phạm Hữu H ( người giám sát thi công ) đứng trên tầng 3 nhà ông H3 đã lấy 01(một) cây gậy gỗ, hình trụ tròn dài 3m ném nhiều lần lên tầng 5 nhà ông Đ về phía Trần Minh N thì Trần Minh N lấy 01 (một) chậu bê tông (nặng 15 kg) đứng tại tầng 5 nhà số H ngõ B N ( bê qua ô lồng sắt ) ném xuống phía tầng 3 nhà ông H3 trúng vào vùng ngực trái anh H gây tổn hại sức khỏe là 10 % tại thời điểm giám định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai bị cáo không có ý thức giết bị hại, đã cố tình ném sát vị trí bị hại đứng, thực tế bị hại chỉ bị tổn hại 10% sức khỏe Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; việc bị hại kháng cáo yêu cầu xét xử bị cáo về tội “Giết người"chưa đạt là không có căn cứ chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo, bị hại về trách nhiệm hình sự, thấy: Tại cấp sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại các điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin lỗi bị hại và nộp tài liệu thể hiện gia đình có công, biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm nên thấy cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội HĐXX thấy cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù là chưa phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung Do đó, thấy cần tăng mức hình phạt tù của bị cáo.

Xét kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường dân sự của bị hại, thấy: Người bị hại đề nghị bị cáo phải bồi thường tổng số tiền tương đương với 50 tháng lương cơ sở. Tại cấp sơ thẩm nhận định do bị hại không nộp tài liệu chứng cứ chứng minh về

yêu cầu bồi thường nên không tính chi phí khám điều trị mà chỉ buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại số tiền 11.818.000 đồng là chưa phù hợp. Mặc dù bị hại không nộp tài liệu chứng cứ chứng minh nhưng căn cứ vào kết luận giám định thương tích và hồ sơ khám chữa bệnh thì thực tế bị hại có đi khám điều trị thương tích do bị cáo N gây ra. Trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự; xem xét đến điều kiện hoàn cảnh kinh tế, gia đình của bị cáo; mức sống, mức thu nhập, chi phí hợp lý tại địa phương, Hội đồng xét xử xem xét thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu tăng bồi thường thiệt hại và sửa án sơ thẩm về phần bồi thường dân sự, buộc bị cáo Trần Minh N phải bồi thường cho bị hại là anh Phạm Hữu H những khoản sau đây: Chi phí cho khám, chụp, thuốc men, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ là 10.000.000 đồng; Bù đắp tổn thất về tinh thần 10 lần mức lương cơ sở = 23.400.000 đồng; Tổng cộng là 33.400.000 đồng.

Bác các yêu cầu khác của bị cáo và bị hại, sửa hình phạt theo hướng tăng hình phạt và sửa phần bồi thường dân sự của Bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bị hại phải nộp án phí dân sự bồi thường.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội tại phiên toà phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm a, b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại về bồi thường dân sự và hình phạt. Không chấp nhận việc xem xét về tội danh.

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Minh N.

Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 213/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội. Cụ thể

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh N 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Trần Minh N phải bồi thường cho bị hại là anh Phạm Hữu H tổng số tiền: 33.400.000 đồng.

Về biện pháp bảo đảm thi hành án: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất phát sinh trên số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo, Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo phải nộp án phí dân sự bồi thường là là 1.670.000 đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp QG - Bộ Tư pháp;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Toà án, VKS nhân dân quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại; đương sự
  • - Lưu HS, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trâm Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 535/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 535/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự phúc thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger