TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 535/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh;
- Bà Vương Thị Khánh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến– Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 514/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 508/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà 913/2024/HSST-QĐ ngày 19/9/2024 đối với:
- Bị cáo: Lê Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 2002 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú và cư trú: Tổ C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: buôn bán trái cây; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Lê Thị H (đã chết); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 927/LC-ĐTTH ngày 15/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người bị hại: ông Phạm Văn N sinh năm 1955 (đã chết);
- Người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại:
- + Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1965 (vợ);
- Địa chỉ: Số I, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- + Chị Phạm Ngọc B, sinh năm 1985 (con)
- Địa chỉ: Số H, Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- + Chị Phạm Thanh T1, sinh năm 1989 (con)
- + Chị Phạm Thanh P, sinh năm 1993 (con)
- + Anh Phạm Duy Đ, sinh năm 2001 (con)
- Cùng địa chỉ: Số I, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- + Chị Phạm Thanh T2, sinh năm 1990 (con)
- Địa chỉ: B, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền của người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại (văn bản uỷ quyền ngày 29/01/2024): Chị Phạm Thanh T2, sinh năm 1990.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai
(bị cáo có mặt, chị T2 và bà T3 vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Lê Văn T có giấy phép lái xe môtô hạng A1 (số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 29-9-2020). Vào khoảng 03 giờ 09 phút ngày 30-12-2023, T điều khiển xe mô tô biển số 60B7-204.38 lưu thông trên đường G, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai hướng đi chợ T4, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán trái cây. Khi T đi đến trước nhà số B, tổ A khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do T điều khiển xe mô tô lưu thông thiếu chú ý quan sát nên đã để phần đầu xe mô tô biển số 60B7-204.38 va chạm vào phía sau người ông Phạm Văn N ngụ tại khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đang chạy bộ tập thể dục cùng chiều phía trước làm ông N té ngã xuống đường bị thương nên T đã đưa ông N đi cấp cứu tại bệnh viện Đ1, sau đó ông N tử vong.
Sự việc xảy ra, T đã đến Công an phường T trình báo, thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Công an phường T lập hồ sơ, chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý.
(Lời khai của bị can tại các bút lục số: 40-41, 42, 43-44; (Lời khai của người liên quan, đại diện bị hại tại các bút lục số: 67, 68)
* Tại biên bản dựng lại hiện trường vụ tai nạn đã xác định và ghi nhận cũ dấu vết vụ tai nạn như sau:
- + Xe mô tô biển số 60B7-204.38 ngã nghiêng bên trái, đầu hướng vào trường THCS T5, đuôi hướng Quốc lộ A, trục tâm bánh xe sau cách mốc là 16m60 và cách mép chuẩn là 0m35, tâm trục bánh trước xe cách mép chuẩn là 0m55.
- + Vị trí người đi bộ ngã sau tai nạn cách mép đường chuẩn là 0m20 và cách tâm trục bánh xe phía sau của xe mô tô là 0m65.
- + Phương tiện thu giữ: 01 xe mô tô biển số 60B7-204.38 và 01 khăn có dính vết máu nạn nhân."
(Bút lục số: 27-28, 33-34).
* Tại bản Kết luận giám định số 196/KL-KTHS ngày 27-02-2024 do Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- “+ Không đủ cơ sở xác định có sự va chạm của xe mô tô biển số 60B7-204.38 với người bộ hành (ông Phạm Văn N).
- + Phía trước xe mô tô biển số 60B7-204.38 (dấu vết nứt nhựa tại mặt trước mặt nạ, dấu vết nứt gây yếm chắn gió trái) phù hợp va chạm vật tày (dạng mềm).
- + Dấu vết trượt, mài mòn tại các chi tiết bên trái, gương chiếu hậu, yếm chắn gió, ốp cụm đèn chiếu sáng, khung gác chân trước và sau của xe mô tô biển số: 60B7-204.38, có cùng chiều từ trái qua phải; phù hợp va chạm mặt đường khi xe ngã."
(Bút lục số: 105).
* Bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 584/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 05-3-2024 của Trung tâm P1 kết luận:
- Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương
- + Chấn thương sọ não gây vỡ sọ đỉnh trái phải, thái dương chẩm trái phức tạp, tụ máu ngoài màng cứng bán cầu trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu hai bên và quanh thân não, chảy máu màng mềm hai bán cầu, dập não thái dương đỉnh hai bên, xuất huyết cầu não thể chai, tụ máu não
- + Kết hợp chấn thương gãy 1/3 dưới 02 cẳng chân trái, gãy xương sườn 3-4-5 bên trái.
- Kết luận khác:
- + Nồng độ cồn trong máu 0,007mg/100ml (Theo Quyết định 320/QĐ-BYT ngày 23-01-2014, trị số bình thường <50,23mg/100ml).
- + Độc chất (ma tuý): Có sự hiện diện của A (P) (Thuốc giảm đau, hạ sốt);
(Bút lục số: 75-76)
Vật chứng trong vụ án:
01 (Một) xe môtô nhãn hiệu Honda, biển số 60B7-204.38 (số máy C52E1006681, số khung RLHJC5261DY151320) và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B7-204.38 của chị Nguyễn Thị T3 (là dì ruột của T) cho T mượn để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại chị T3; (Bút lục số: 22, 24)
- 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 29-9-2020 mang tên Lê Văn T và 01 (một) khăn của T không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho T;
(Bút lục số: 33, 46).
- 01(Một) USB lưu trữ file hình ảnh trích xuất được tại khu vực hiện trường vụ tai nạn: lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
2. Về bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại:
Gia đình bị hại ông Phạm Văn N và bị cáo đã thoả thuận xong phần trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bồi thường thêm (Bút lục số: 47-48, 67 và đơn xin miễn trách nhiệm hình sự).
3. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 510/CT-VKSBH ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Lê Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
- + Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260 và điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Văn T từ: 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
4. Ý kiến của những người tham gia tố tụng tại phiên toà.
- Bị cáo Lê Văn T trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo hiện mồ côi cha mẹ nên xin được hưởng án treo để làm lại cuộc đời.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, đại diện hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do các đương sự đã có lời khai đầy đủ, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường, người làm chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; thể hiện:
Vào khoảng 03 giờ 09 phút ngày 30-12-2023, tại trước nhà số B, tổ A khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Lê Văn T đã có hành vi điều khiển xe môtô biển số 60B7-204.38 thiếu chú ý quan sát nên đã để phần đầu xe mô tô T điều khiển va chạm vào người ông Phạm Văn N đang chạy bộ trước cùng chiều, gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông N bị tử vong.
Bị cáo mặc dù có giấy phép lái xe môtô hạng A1 theo quy định nhưng khi điều khiển phương tiện giao thông tham gia lưu thông trên đường do thiếu chú ý quan sát phía trước nên đã không giảm tốc độ thấp hơn khi có người đi phía trước (có thể dừng lại một cách an toàn), để xảy ra tai nạn gây hậu quả 01 người chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ quy định tại Khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại về tính mạng cho người bị hại, lỗi thuộc về bị cáo trong vụ án này nên trách nhiệm hình sự phải chịu tương ứng với hành vi thực hiện.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước, gây tổn thất lớn cho gia đình của bị hại, làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó, cần phải có một mức hình phạt nghiêm minh để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn T phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Lê Văn T điều khiển xe mô tô gây tai nạn làm thiệt hại về tính mạng cho ông Phạm Văn N. Bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, bản Cáo trạng số 510/CT-VKSBH ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân: nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự để khắc phục hậu quả, bị hại có một phần lỗi do đi bộ xuống phần đường dành cho xe môto (đường có vỉa hè dành cho người đi bộ), đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ và không xử lý đối với bị cáo; thuộc trường hợp quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp người bị hại có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự, không xử lý hoặc giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đối chiếu với các quy định, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử chỉ giảm nhẹ hình phạt theo hướng có lợi cho người phạm tội mà không miễn trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận định trên xét thấy: bị cáo Lê Văn T có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xét thấy bị cáo Lê Văn T có đủ các điều kiện được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Sau tai nạn, bị cáo Lê Văn T và đại diện bị hại đã thoả thuận giải quyết xong về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự.
[4] Về vật chứng:
Đối với 01 (Một) xe môtô nhãn hiệu Honda, biển số 60B7-204.38 (số máy C52E1006681, số khung RLHJC5261DY151320) và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B7-204.38 của chị Nguyễn Thị T3 (là dì ruột của T) cho T mượn để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại chị T3 là phù hợp quy định pháp luật.
-Đối với 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 29-9-2020 mang tên Lê Văn T và 01 (một) khăn của T không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho T là phù hợp quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 và Điều 38, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Về tội danh: xác định bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 535/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 535/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
