Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 535/2024/HS-PT

Ngày: 03-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh

Ông Trần Ngọc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 6 và ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 212/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Đức D, Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu C do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Đức D, Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị:

  1. Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1992; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; nơi thường trú: số D, đường H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Căn hộ A Tầng H, Khối A, Đường số A, Khu nhà ở L, Tổ A, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn S và bà Phan Thị Thanh X; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2023; có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Kiến Đ, sinh năm 1988; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; nơi thường trú: số I, đường H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh: Chỗ ở: 27.06 Landmark 1, Chung cư V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Quách Thị L1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2023; có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Hữu L, sinh năm 1987; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên Bệnh viện N; nơi thường trú: số A, Tổ A, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn L2 và bà Huỳnh Thị Ẩ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
  6. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2023 cho đến ngày 08/9/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

    Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu L: Ông Ngô Thanh S2, là luật sư của Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

  7. Nguyễn Đức D, sinh năm: 1991; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; nơi thường trú: số B, C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số E, D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Võ Văn B và bà Nguyễn Ngọc L3; bị cáo có vợ và 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không;
  8. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2023.

  9. Lê Nhật H1, sinh năm 1987; tại tỉnh Tây Ninh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; nơi thường trú: số B, Khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Lê Kỳ T và bà Trần Thị Thu H2; bị cáo có vợ và 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;
  10. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2023 cho đến ngày 08/9/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

  11. Nguyễn Hữu C, sinh năm 1989; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; nơi thường trú: số A, đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Hữu C1 và bà Nguyễn Thị Kim H3; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không;
  12. Tiền án: Ngày 31/12/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 07/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm và tuyên phạt 02 năm tù, hiện chưa thi hành án (Bản án số 28/2023/HS-PT).

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/5/2023; có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác nắm bắt tình hình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H phát hiện hệ thống “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” bằng hình thức cá cược bóng đá qua trang mạng “Bong88.com” do Nguyễn Hoàng H tổ chức quản lý, hoạt động cụ thể như sau:

Khoảng tháng 7/2021, Nguyễn Hoàng H quen biết với đối tượng tên Tiên Đ1 (chưa rõ lai lịch) chuyên tổ chức đánh bạc trên mạng. H được Tiên Đ1 giao cho 01 tài khoản tổng “Master” là KJ1011, với hạn mức 80.000 điểm, quy ước 01 điểm là 12.000 đồng, tương đương số tiền 960.000.000 đồng. Nguyễn Hoàng H đã chia tài khoản KJ1011 thành 13 tài khoản “Agent” từ KJ101100 đến KJ101112 giao cho các đối tượng bên dưới. Sau đó, các đối tượng này tạo thành nhiều tài khoản “Member” để trực tiếp cá cược. Đồng thời, H thuê Nguyễn Đức D đi thu tiền cá cược từ các chủ tài khoản “Agent” để giao cho Tiên Đ1 và được H trả công bằng hình thức hùn 1.000 đồng/1 điểm trong tài khoản KJ1011 của H và được H cấp 1 tài khoản phụ và mật khẩu để theo dõi trang cá cược, cụ thể:

  1. Nguyễn Hoàng H giao cho Nguyễn Kiến Đ 04 tài khoản “Agent” gồm: KJ101100 (hạn mức 15.000 điểm, quy ước 01 điểm là 15.000 đồng, tương đương 225.000.000 đồng), KJ101101 (hạn mức 5.000 điểm, quy ước 01 điểm là 15.000 đồng, tương đương 75.000.000 đồng), KJ101111 (hạn mức 5.000 điểm, quy ước 01 điểm là 15.000 đồng, tương đương 75.000.000 đồng), KJ101112 (hạn mức 15.000 điểm, quy ước 01 điểm là 15.000 đồng, tương đương 225.000.000 đồng), trong đó:
  2. 03 tài khoản “Agent” gồm: KJ101100, KJ101101, KJ101112, Đ trực tiếp sử dụng. Riêng tài khoản KJ101100: Đ tạo thành tài khoản “Member” gồm:

    • Tài khoản KJ101100AAA: Đ giao cho Nguyễn Hữu L, hạn mức 1000 điểm, quy ước 01 điểm là 40.000 đồng, tương đương 40.000.000 đồng, tiền hoa hồng 25 lai (01 lai tương đương 1.000 đồng). L giao lại cho Hà Tấn T1 để đặt cược, quy ước 01 điểm là 50.000 đồng, tiền hoa hồng 10 lai. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023, T1 đặt cược với số điểm đặt cược là 2999 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 149.950.000 đồng, T1 thắng các trận đặt cược là 1209,89 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 60.494.500 đồng.
    • Tài khoản KJ101100CCC: Đ giao cho Nguyễn Hữu L, hạn mức 400 điểm, quy ước 01 điểm là 40.000 đồng, tương đương 16.000.000 đồng, L giao tài khoản này cho đối tượng Xuân Q (chưa rõ lai lịch) để đặt cược, quy ước 01 điểm là 50.000 đồng, tương đương 20.000.000 đồng.
    • Tài khoản KJ101100DDD: hạn mức 1000 điểm, quy ước 01 điểm là 15.000 đồng, tương đương 15.000.000 đồng, Đ sử dụng tham gia đặt cược. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023, Đ đặt cược với tổng số điểm đặt cược là 26.453 điểm x 15.000 đồng, tương đương số tiền là 396.795.000 đồng, Đ thắng các trận đặt cược là 9897,06 điểm x 15.000 đồng, tương đương số tiền là 148.455.900 đồng.

    - Tài khoản “Agent” KJ101111: Đạt giao cho Lê Nhật H1 hạn mức 10.000 điểm, quy ước 01 điểm 45.000 đồng, tương đương 450.000.000 đồng. Sau đó, H1 tạo thành 08 tài khoản “Member” bên dưới từ KJ101111001 đến KJ101111008, trong đó:

    • Tài khoản KJ101111001: H1 giao cho Lý Thanh H4 để cá cược, hạn mức 400 điểm, quy ước 01 điểm là 50.000 đồng, tương đương 20.000.000 đồng. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, Qua kiểm tra dữ liệu sao kê các trận đặt cược từ ngày 26/11/2022 đến 13/12/2022, H4 đặt cược với tổng số điểm đặt cược là 7914 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 395.700.000 đồng, H4 thắng các trận đặt cược là 2497,7 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 124.885.000 đồng.
    • Tài khoản KJ101111002: H1 giao lại cho đối tượng tên L4 (chưa rõ lai lịch) cá cược, hạn mức 200 điểm, quy ước 01 điểm 50.000 đồng, tương đương 10.000.000 đồng; Tài khoản KJ101111003: H1 giao lại cho đối tượng tên M (chưa rõ lai lịch) cá cược, hạn mức 300 điểm, quy ước 01 điểm 50.000 đồng, tương đương 15.000.000 đồng; Tài khoản KJ101111004: H1 giao lại cho đối tượng tên P (chưa rõ lai lịch) cá cược, hạn mức 400 điểm, quy ước 01 điểm 50.000 đồng, tương đương 20.000.000 đồng.

    Đến ngày 14/12/2022, do H1 nợ tiền của Đ không trả nên Đ đã khóa tất cả các tài khoản trên của H1 và tự mình quản lý. Qua đó, Đ tiếp tục sử dụng các tài khoản "Member” này, trong đó:

    • Tài khoản KJ101111005: Đ giao cho Nguyễn Hữu L cá cược, hạn mức 5.000 điểm, quy ước 01 điểm 15.000 đồng, tương đương 75.000.000 đồng. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023, L đặt cược với tổng số điểm đặt cược là 5660 điểm x 15.000 đồng, tương đương số tiền là 84.900.000 đồng, L thắng các trận đặt cược là 2375,75 điểm x 15.000 đồng, tương đương số tiền là 35.636.250 đồng.
    • Tài khoản KJ101111008: Đ giao cho Nguyễn Hữu L, hạn mức 400 điểm, quy ước 1 điểm 21.000 đồng, tương đương 8.400.000 đồng. Sau đó, L giao lại tài khoản này cho Nguyễn Thanh V cá cược, quy ước 01 điểm 25.000 đồng, tương đương 10.000.000 đồng. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, từ ngày 26/11/2022 đến 28/12/2022, V đặt cược với tổng số điểm đặt cược là 7499 điểm x 25.000 đồng, tương đương số tiền là 187.475.000 đồng, V thắng các trận đặt cược là 3520,4 điểm x 25.000 đồng, tương đương số tiền là 88.010.000 đồng.
  3. Nguyễn Hoàng H giao cho đối tượng tên B1 (chưa rõ lai lịch) 1 tài khoản “Agent” KJ101103, hạn mức 8000 điểm, quy ước 01 điểm 30.000 đồng, tương đương 240.000.000 đồng.
  4. Nguyễn Hoàng H giao cho Nguyễn Hữu C 01 tài khoản “Agent” KJ101104, hạn mức 6000 điểm, quy ước 1 điểm 15.000 đồng, tương đương 90.000.000 đồng. Từ tài khoản này, C tạo thành 2 tài khoản “Member” gồm:
    • Tài khoản KJ101104000: C giao cho Lâm Trí S3 đặt cược, hạn mức 200 điểm, quy ước 1 điểm 50.000 đồng, tương đương 10.000.000 đồng. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023, S3 đặt cược với tổng số điểm đặt cược là 444 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 22.200.000 đồng, S3 thắng các trận đặt cược là 265,22 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 13.261.000 đồng.
    • Tài khoản KJ101104002: C giao cho Trần Việt D1, hạn mức 1000 điểm, quy ước 1 điểm 50.000 đồng, tương đương 50.000.000 đồng. Qua kiểm tra sao kê tài khoản này, từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023, D1 đặt cược với tổng số điểm đặt cược là 2709 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 135.450.000 đồng, S3 thắng các trận đặt cược là 742,66 điểm x 50.000 đồng, tương đương số tiền là 37.133.000 đồng.
  5. Nguyễn Hoàng H giao cho Đàm Tuấn K (tên gọi khác là V1) 01 tài khoản “Agent” KJ101107, hạn mức 1000 điểm, quy ước 01 điểm 30.000 đồng, tương đương 30.000.000 đồng; Giao cho Đỗ Lê Duy A (tên gọi khác là T2) 01 tài khoản “Agent” KJ101108, hạn mức 1000 điểm, quy ước 01 điểm 25.000 đồng, tương đương 25.000.000 đồng; Giao cho đối tượng tên Nguyễn H5 (tên gọi khác là T3, chưa rõ lai lịch) 01 tài khoản “Agent” KJ101109, hạn mức 1000 điểm, quy ước 1 điểm 30.000 đồng, tương đương 30.000.000 đồng.
  6. Tài khoản “Agent” KJ101105: H tạo thành 4 tài khoản “Member” (693 gồm: Tài khoản KJ101105000 và KJ101105001: H trực tiếp cá cược với tài khoản đầu trên Tiên Đạt và tài khoản KJ101105002 và KJ101105003: Hiếu giao cá cược trực tiếp với La Hoàng Tư P1, hạn mức 2000 điểm, quy ước 1 điểm 30.000 đồng, tương đương 60.000.000 đồng.
  7. Tài khoản “Agent” KJ101106: Hiếu tạo thành 3 tài khoản “Member” gồm: KJ101106111, KJ101106112, KJ101106113: Hiếu trực tiếp sử dụng cá cược. Trong đó, tài khoản “Member” KJ101106112 và KJ101106113, Nguyễn Hoàng H cá cược trực tiếp thắng thua với đầu trên Tiên Đạt. Qua kiểm tra sao kê, ngày 18/12/2022, tại giải giao hữu Quốc tế, trận bóng giữa A - Tây Ban Nha, H đặt cược 600 điểm, tương đương 7.200.000 đồng, trận này Hiếu thắng được 267 điểm, tương đương 3.204.000 đồng. Do đó, H phải chịu trách nhiệm về số tiền đánh bạc là 10.404.000 đồng. Trận bóng ngày 6/01/2023, tại giải bóng đá giải A Úc, giữa P – Western Sydney Wanderers FC, H đặt cược 430 điểm, tương đương 5.160.000 đồng, trận này Hiếu thắng được 330 điểm, tương đương 3.960.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 9.120.000 đồng.
  8. Tài khoản “Agent” KJ101110: H tạo thành 7 tài khoản “Member” gồm: 6 tài khoản: KJ101110000, KJ101110001, KJ101110002, KJ101110004, KJ101110005, KJ101110006, H trực tiếp cá cược với tài khoản đầu trên Tiên Đạt và 01 tài khoản KJ101110007: H giao cho Đoàn T4 cá cược, hạn mức 200 điểm, quy ước 1 điểm là 40.000 đồng, tương đương 8.000.000 đồng. Riêng tài khoản “Agent" KJ101102: H không sử dụng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 06 (sáu) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước

  3. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm b, c khoản 2 Điều 321 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiến Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”; 03 (ba) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

  5. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm b, c khoản 2 Điều 321 điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 03 (ba) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”; 02 (hai) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 16/01/2023 đến ngày 08/9/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

  7. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 05 (năm) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023.

  9. Căn cứ điểm điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  10. Xử phạt bị cáo Lê Nhật H1 03 (ba) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 16/01/2023 đến ngày 08/9/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

  11. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  12. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 28/2023/HS-PT, ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù, về tội “Đánh bạc”; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực, hiện chấp hành án; bản án còn giải quyết các vấn đề liên quan đến xử lý về thu lợi bất chính, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/01/2024, bị cáo Nguyễn Đức D, Nguyễn Hoàng H có đơn kháng cáo; ngày 29/01/2024, bị cáo Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu C có đơn kháng cáo; ngày 05/02/2024 bị cáo Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu L có đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức D có Đơn xin rút kháng cáo với nội dung mức án 05 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu L, Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ để giảm nhẹ: Các bị cáo H, L, H1 đã nộp phạt bổ sung và số tiền thu lợi bất chính theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối với bị cáo Đ và C thì cho rằng bản thân là lao động chính trong gia đình; cha mẹ đều lớn tuổi nên cần có người chăm sóc.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

Về nội dung: Xét thấy cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội.. Tại phiên tòa các bị cáo H, L, H1 đã khắc phục số tiền phạt bổ sung và thu lợi bất chính, đây là tình tiết giảm nhẹ mới nên xem xét đối với các bị cáo. Mức án đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu L, Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu C, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu L trình bày tranh luận: Thống nhất với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới như sau: Bị cáo đã nộp phạt bổ sung mười triệu đồng; gia đình bị cáo rất khó khăn; bản thân bị thoái hóa cột sống; năm 2017 và 2021 có hai lần đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, được xác nhận có đóng góp nhiều cho địa phương; cha mẹ hiện nay đã lớn tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Không ai tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo:

[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/01/2024, bị cáo Nguyễn Đức D, Nguyễn Hoàng H có Đơn kháng cáo; ngày 29/01/2024, bị cáo Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu C có Đơn kháng cáo; ngày 05/02/2024 bị cáo Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu L có Đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo thủ tục phúc thẩm được quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Ngày 31 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức D có Đơn xin rút kháng cáo với nội dung mức án 05 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội.

Xét thấy bị cáo D rút Đơn kháng cáo trên cơ sở tự nguyện. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Về tội danh: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 7/2021, Nguyễn Hoàng H trực tiếp nhận tài khoản tổng “Master” với hạn mức 80.000 điểm từ đối tượng tên Tiên Đ1 (chưa rõ lai lịch) với quy ước 01 điểm tương đương 12.000 đồng. Sau đó, H chia thành nhiều tài khoản nhỏ “Agent” để giao lại cho Nguyễn Hữu C, với quy ước 30.000 đồng/01 điểm, hưởng chênh lệch 18.000 đồng/01 điểm; giao lại cho Đỗ Lê Duy A với quy ước 25.000 đồng/01 điểm, hưởng lời 13.000 đồng/01 điểm; giao cho Lê Nhật H1 với quy ước 15.000 đồng/01 điểm, hưởng lời 3.000 đồng/01 điểm; giao cho Nguyễn Kiến Đ với quy ước 15.000 đồng/01 điểm, hưởng lời 3.000 đồng/01 điểm. Qua sao kê, H hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc với số tiền 4.980.730 đồng. Ngoài ra, H còn thuê Nguyễn Đức D phụ giúp việc giao nhận tiền cá cược và trả công cho Trần Dức D2 bằng việc cho Đức D 01 điểm là 1.000 đồng trong tài khoản đặt cược. Qua sao kê, Đức D hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc với số tiền 1.153.600 đồng.

Nguyễn Kiến Đ nhận từ tài khoản từ Nguyễn Hoàng H, với quy ước 15.000 đồng/01 điểm. Sau đó, Đ giao lại cho Nguyễn Hữu L với quy ước 21.000 đồng/01 điểm và 40.000 đồng/01 điểm, hưởng lợi 6.000 đồng/01 điểm và 25.000 đồng/01 điểm. Qua sao kê, Đ hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc với số tiền 1.949.500 đồng. Ngoài ra, Đ còn lấy tài khoản từ H để trực tiếp đặt cược. Qua sao kê, từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023 Đ đặt cược với tổng số tiền thắng thua là 545.250.900 đồng.

Nguyễn Hữu C nhận tài khoản từ Nguyễn Hoàng H với quy ước 30.000 đồng/01 điểm. C đã giao tài khoản lại cho Lâm Trí S3 và Trần Việt D1 để cá cược, với quy ước 50.000 đồng/01 điểm, C hưởng chênh lệch 20.000 đồng/01 điểm. Do Sĩ và D1 thắng cược nên C không hưởng lợi nhuận từ các tài khoản này.

Nguyễn Hữu L nhận 02 tài khoản từ Nguyễn Kiến Đ sau đó L giao cho Hà Tấn T1 và Nguyễn Thanh V để sử dụng tham gia đặt cược, trong đó tài khoản giao cho T1 được L nhận từ K với quy ước 40.000 đồng/01 điểm, L giao lại T1 với quy ước 50.000 đồng/01 điểm, hưởng lợi 10.000 đồng/01 điểm. Còn tài khoản giao cho V, được L nhận từ Kiến Đạt quy ước 21.000 đồng/01 điểm, L giao lại cho V với quy ước 25.000 đồng/01 điểm, hưởng lợi 4.000 đồng/01 điểm. Qua sao kê, L hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc với số tiền 779.8000 đồng. Ngoài ra, L còn nhận tài khoản từ Kiến Đ và trực tiếp tham gia đặt cược. Qua kiểm tra sao kê từ ngày 29/12/2022 đến ngày 13/01/2023, L đặt cược với số tiền thắng thua là 120.536.250 đồng.

Lê Nhật H1 nhận tài khoản từ Nguyễn Kiến Đ với quy ước 15.000 đồng/01 điểm. Nhật Huy giao lại tài khoản cho Lý Thanh H4 với quy ước 50.000 đồng/01 điểm, hưởng lợi 35.000 đồng/01 điểm. Tài khoản này H4 sử dụng đặt cược và thua với số tiền 32.309.900 đồng, nên Nhật H1 hưởng lợi được số tiền trên.

[2.2] Như vậy, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự an toàn xã hội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Đức D, Lê Nhật H1 và Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo Nguyễn Kiến Đ và Nguyễn Hữu L phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo các tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.3] Về vai trò của các bị cáo

X1 tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Đối với Nguyễn Hoàng H là người chủ mưu, cầm đầu việc tổ chức đánh bạc. Bị cáo trực tiếp nhận tài khoản tổng “Master” với hạn mức 80.000 điểm, với quy ước 01 điểm tương đương 12.000 đồng, chia thành nhiều tài khoản nhỏ “Agent” để giao lại cho các bị cáo khác. Bị cáo là người phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này, nên cần xét xử bị cáo mức án cao hơn các bị cáo khác trong nhóm bị cáo phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Kiến Đ nhận tài khoản từ bị cáo Nguyễn Hoàng H, để giao lại cho Nguyễn Hữu L với quy ước 21.000 đồng/01 điểm và 40.000 đồng/01 điểm, hưởng lợi 6.000 đồng/01 điểm và 25.000 đồng/01 điểm. Ngoài ra, Đ còn lấy tài khoản từ H để trực tiếp đặt cược. Từ ngày 29/12/2022 đến 13/01/2023 Đ đặt cược với tổng số tiền thắng thua là 545.250.900 đồng. Vì vậy bị cáo phạm cùng lúc hai tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Hữu C nhận tài khoản từ Nguyễn Hoàng H, sau đó giao tài khoản lại cho Lâm Trí S3 và Trần Việt D1 để cá cược. Từ đó tạo điều kiện cho S3 đánh bạc số tiền 22.200.000 đồng để S3 thu lợi bất chính số tiền lần lượt (do thắng cá cược) là 13.261.000 đồng và 37.133.000 đồng; tạo điều kiện cho Trần Việt D1 đánh bạc với số tiền 135.450.000 đồng. Những khoản tiền thắng thua là rất lớn. Mặc khác, ngày 07/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm và tuyên phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Đánh bạc”, hiện chưa thi hành án. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, về nhân thân bị cáo từng bị Công an phường B, thành phố T (quận T cũ) xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Điều đó cho thấy bị cáo chưa thật sự ăn năn hối cải về hành vi đánh bạc của mình nên cũng cần phải xử lý nghiêm khắc. Tòa án cấp sơ thẩm có nhận định về trường hợp tái phạm của bị cáo, nhưng khi quyết định hình phạt lại không áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đánh giá về nhân thân của bị cáo từ đó xét xử bị cáo 05 năm 06 tháng tù (trên mức khởi điểm của khung hình phạt 06 tháng tù) về tội “Tổ chức đánh bạc”, bằng với mức án đã tuyên cho bị cáo Đ là chưa đánh giá đầy đủ, chính xác vai trò của các bị cáo trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu L, Lê Nhật H1 là đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Kiến Đ, bị cáo nhận tài khoản từ Đ sau đó giao cho các bị cáo khác để sử dụng tham gia đặt cược. Ngoài ra, L còn nhận tài khoản từ Đ và trực tiếp tham gia đặt cược. Như vậy, L và H1 là những người giúp sức tích cực cho H và Đ phạm tội với số tiền rất lớn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các bị cáo chỉ là người giúp sức, gia đình khó khăn... để áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là chưa đánh giá toàn diện vai trò, hành vi, cũng như hậu quả các bị cáo gây ra cho xã hội.

Tuy nhiên, về nguyên tắc không làm bất lợi cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét lại mức án đối với các bị cáo nhằm thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật trong vụ án có đồng phạm.

[2.4] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo

[2.4.1] Như phần nội dung vụ án đã nêu, đây là băng nhóm tội phạm tổ chức đánh bạc có hệ thống đã sử dụng mạng internet, phương tiện điện tử để phạm tội, có câu kết chặc chẽ, số tiền phạm pháp rất lớn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, đồng thời làm gương cho người khác. Nên các bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định.

[2.4.2] Các bị cáo kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo mức án quá nặng so với hành vi phạm tội, sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính, cũng như nộp lại số tiền thu lợi bất chính; gia đình các bị cáo khó khăn... theo bản án sơ thẩm đã tuyên nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, việc các bị cáo nộp số tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính cũng đã thể hiện một phần việc ăn năn, hối cải của các bị cáo, gia đình các bị cáo có khó khăn. Nhưng xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là không nặng. Như đã nhận định ở phần trên, hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng, mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự an toàn xã hội nên không có căn cứ để giảm mức hình phạt cho các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được những tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

[3] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về giải quyết vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đã nộp tiền theo quyết định của Bản án sơ thẩm. Cụ thể: Bị cáo Nguyễn Hoàng H nộp 50.000.000 đồng (số tiền phạt bổ sung); bị cáo Nguyễn Kiến Đ nộp 31.949.500 đồng (số tiền phạt bổ sung 30 triệu đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.949.500 đồng); bị cáo Nguyễn Hữu L nộp 10.000.000 đồng (số tiền phạt bổ sung); bị cáo Lê Nhật H1 nộp số tiền 42.310.000 đồng (số tiền phạt bổ sung 30.000.000 đồng, 12.310.000 đồng tiền thu lợi bất chính). Các số tiền này sẽ được khấu trừ trong giai đoạn thi hành án.

[5] Do không chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Đức D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu L, Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu C.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Kiến Đ và Nguyễn Hữu L phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Lê Nhật H1 và Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Tuyên xử:

  1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 06 (sáu) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023.

  3. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiến Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”; 03 (ba) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023.

  5. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 03 (ba) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”; 02 (hai) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/01/2023 đến ngày 08/9/2023.

  7. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 05 (năm) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023.

  9. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  10. Xử phạt bị cáo Lê Nhật H1 03 (ba) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/01/2023 đến ngày 08/9/2023.

  11. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  12. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 28/2023/HS-PT, ngày 07/3/3023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù, về tội “Đánh bạc”; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

2. Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Hoàng H nộp 50.000.000 đồng (số tiền phạt bổ sung); bị cáo Nguyễn Kiến Đ nộp 31.949.500 đồng (số tiền phạt bổ sung 30 triệu đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.949.500 đồng); bị cáo Nguyễn Hữu L nộp 10.000.000 đồng (số tiền phạt bổ sung); bị cáo Lê Nhật H1 nộp số tiền 42.310.000 đồng (số tiền phạt bổ sung 30.000.000 đồng, 12.310.000 đồng tiền thu lợi bất chính). Các số tiền này sẽ được khấu trừ trong giai đoạn thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Kiến Đ, Nguyễn Hữu L, Lê Nhật H1, Nguyễn Hữu C mỗi người chịu 200.000 (hai trăn ngàn) đồng. Bị cáo Nguyễn Đức D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Cục thi hành án TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NVK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồ Tâm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 535/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 535/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger