Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 534/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 8 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trung Thành

Bà Nguyễn Thi Thu Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Thạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 315/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 524/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy U, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Thúy U trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn D chung sống vào năm 2023, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên đã sống ly thân từ tháng 12/6/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn D; Về con chung: Có 01 con chung trên Trần Lê Nhã H, sinh ngày 05/02/2019, hiện đang sống với ông D. Khi ly hôn bà đồng ý tiếp tục giao cho ông D nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình chuẩn bị xét xử ông Trần Văn D vắng mặt, có đơn xin vắng mặt và trình bày ý kiến như sau: Ông thống nhất với toàn bộ ý kiến, yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy U. Do có nhiều công việc không thể tới lui tham gia tố tụng tại Tòa án nên ông xin được vắng mặt các lần tòa án triệu tập để giải quyết vụ việc của vợ chồng.

Tại phiên toà,

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn khởi kiện cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm về vụ án như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thúy U đối với ông Trần Văn D; Về con chung: Giao con chung Trần Lê Nhã H, sinh ngày 05/02/2019 cho ông Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Thị Thúy U không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét; Về án phí, quyền kháng cáo giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị Thúy U yêu cầu ly hôn, nuôi con với ông Trần Văn D. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Ông Trần Văn D có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho đương sự. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.4] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Bà Lê Thị Thúy U và ông Trần Văn D vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Thúy U và ông Trần Văn D là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Lê Thị Thủy U1 và ông Trần Văn D đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa bà Lê Thị Thú U2 và ông Trần Văn D là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Lê Thị Thúy U cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Trần Văn D vắng mặt. Đồng thời có văn bản đề nghị vắng mặt và trình bày ý kiến là thống nhất với yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thúy U. Điều này chứng tỏ ông ông Trần Văn D không còn yêu thương, không mong muốn tiếp tục đoàn tụ với với bà Lê Thị Thúy U.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, ông bà đã không còn yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Điều này thể hiện ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thúy U đối với ông Trần Văn D là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Lê Thị Thúy U và ông Trần Văn D có 01 con chung trên Trần Lê Nhã H, sinh ngày 05/02/2019, hiện con chung đang sống với ông Trần Văn D. Bà Lê Thị Thúy U đồng ý giao con cho ông Trần Văn D nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Văn D vắng mặt nhưng có văn bản trình bày thống nhất ông sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Lê Thị Thúy U cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho ông Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Thị Thúy U không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:

HĐXX thấy rằng, bà Lê Thị Thủy U1 và ông Trần Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Lê Thị Thủy U1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp; Ông Trần Văn D không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thúy U đối với ông Trần Văn D. Bà Lê Thị Thúy U và ông Trần Văn D ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung:

    Giao con chung Trần Lê Nhã H, sinh ngày 05/02/2019 cho ông Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Thị Thúy U không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

    Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí:

    Lê Thị Thúy U phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005691 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt tính kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - UBND xã Bình Chánh, H.Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - CCTHADS huyện Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 534/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 534/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger