|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 534/2024/HS-PT Ngày: 03 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh;
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An;
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 07 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 954/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Vụ án được xét xử theo hình thức trực tuyến, bao gồm 02 điểm cầu:
- Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điểm cầu thành phần: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Văn H, sinh năm 1980 tại Tiền Giang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Cán bộ Nhà nước cấp xã – Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1955; Vợ Trần Thị H1, sinh năm 1980 (đã ly hôn); có 02 người con, sinh năm 2004 và năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08-3-2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa ở điểm cầu thành phần.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Văn H:
Luật sư Vũ Thanh H2 - Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt tại phiên tòa ở điểm cầu trung tâm).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Văn H giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An nhiệm kỳ 2016 – 2021. Trong năm 2019, bị cáo H có hành vi chiếm đoạt tài sản và giả mạo trong công tác như sau:
1. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại Trần Thanh N và giả mạo trong công tác:
Thông qua ông Trương Văn B, Huỳnh Văn H biết được ông Trần Thanh N là người nhận bao tiêu lúa vụ “Hè Thu” năm 2019. Bị cáo H nhờ ông B hẹn ông N đến tại trụ sở của UBND xã T gặp bị cáo H để thỏa thuận giá cả lúa bao tiêu.
Sáng ngày 15-4-2019, ông B cùng ông N đến UBND xã T gặp bị cáo H và đi đến thỏa thuận, thống nhất hình thức bao tiêu lúa như sau: Giá lúa sẽ thấp hơn giá thị trường 200 đồng/kg; ông N sẽ đặt cọc số tiền 5.000.000 đồng/ha; trước ngày thu hoạch 10 ngày đến 15 ngày, ông N đến xem lúa để định ngày thu hoạch.
Tại đây, bị cáo H ký Hợp đồng bao tiêu với ông N 58 ha lúa OM 5451 và nhận tiền cọc của ông N 290.000.000 đồng.
Ngoài ra, trước đó bị cáo H đã gặp và trực nhờ các bị cáo Nguyễn Văn T2, Trần Văn N1, Trần Văn H3 và Mai Tuấn K ký các Hợp đồng bao tiêu lúa với ông N, để bị cáo H nhận tiền cọc “làm vốn kinh doanh phân thuốc, cuối vụ bị cáo H tự chịu trách nhiệm với thương lái”. Nếu đồng ý giúp, bị cáo H sẽ bán thiếu tiền vật tư nông nghiệp đến cuối vụ thanh toán. Mặc dù, cả 04 bị cáo T2, N1, H3 và K chỉ canh tác vài ha đất lúa, nhưng thấy bị cáo H là Chủ tịch UBND xã, gia đình có kinh doanh vật tư nông nghiệp và có nhiều ruộng đất nên đồng ý ký hợp đồng bao tiêu lúa với thương lái theo yêu cầu của bị cáo H về diện tích đất canh tác và giống lúa, để bị cáo H chiếm đoạt tiền cọc của ông N, cụ thể:
- Ngày 15-4-2019, tại UBND xã T, huyện T, bị cáo Nguyễn Văn T2 ký Hợp đồng bao tiêu 59 ha lúa OM 5451 với ông N. Bị cáo H trực tiếp nhận số tiền cọc là 295.000.000 đồng của ông N giao. Ngoài ra, cùng ngày cũng tại UBND xã, trước khi bị cáo T2 ký hợp đồng với ông N, bị cáo H còn có lời nói lừa dối để ông Phạm Văn H4 đang canh tác 47,5 ha lúa ký Hợp đồng bao tiêu 56 ha lúa OM 5451 với ông N vào ngày 15-4-2019, tại UBND xã T, để bị cáo H4 nhận số tiền cọc 280.000.000 đồng từ ông N, ông Phạm Văn H4 không biết.
- Ngày 21-4-2019, tại UBND xã T, các bị cáo Trần Văn N1 và Trần Văn H3 lần lược ký Hợp đồng bao tiêu lúa Đài Thơm T3 với ông N. Trong đó, bị cáo N1 ký với diện tích đất 20 ha với tiền cọc là 100.000.000 đồng và bị cáo H3 ký với diện tích đất 46 ha, tiền cọc là 230.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông N chỉ mang
theo 200.000.000 đồng, nên giao cho mỗi bị cáo nhận 100.000.000 đồng, tổng cộng là 200.000.000 đồng, rồi mang về đưa lại cho bà Trần Thị H1 là vợ của bị cáo H4 theo yêu cầu của bị cáo H4. Số tiền còn lại 130.000.000 đồng, ông N trực tiếp giao cho bị cáo H4.
- Ngày 03-5-2019, tại nhà của bị cáo H4, bị cáo Mai Tuấn K ký Hợp đồng bao tiêu 34 hecta lúa IR 504-04 với ông N, ông N giao cho ông K số tiền cọc là 170.000.000 đồng, ông K không biết đếm tiền nên giao cho bị cáo H4 đếm và cất giữ luôn.
Đến ngày 12-7-2019, kết thúc đợt thu hoạch lúa nhưng không có lúa giao cho ông N theo như thỏa thuận trong các hợp đồng. Bị cáo H4 thừa nhận việc ký hợp đồng khống để lấy tiền của ông N làm vốn kinh doanh. Hai bên lập “Biên bản thỏa thuận” đến ngày 25-7-2019, bị cáo H4 trả hết cho ông N số tiền 1.365.000.000 đồng tiền cọc, cùng tiền lãi suất là 273.000.000 đồng. Đến hạn thỏa thuận, bị cáo H4 không có tiền trả cho ông N. Bị cáo H4 thỏa thuận với ông N như sau: Bị cáo H4 sẽ làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) cho ông N đứng tên 02 thửa đất số 44 và 73, cùng tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An có tổng diện tích 42.607m², để khấu trừ số tiền trên, ông N đồng ý.
Sau đó, bị cáo H4 chỉ đạo bị cáo Bùi Đăng S đang là Công chức Địa chính xã T làm hồ sơ, thủ tục cấp GCNQSDĐ 02 thửa đất số 44 và 73 nêu trên cho ông N.
Thực hiện chỉ đạo của bị cáo H4, bị cáo S lấy 02 Phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất chưa ghi thông tin, nhờ các ông bà: Võ Văn L (Trưởng ấp C, xã T), Lê Thị T4 và Nguyễn Văn A là người dân đang sinh sống tại ấp C, xã T ký xác nhận khống vào 02 phiếu lấy ý kiến. Sau đó, bị cáo S hỏi và được bị cáo H4 yêu cầu ghi thông tin nguồn gốc sử dụng 02 thửa đất như sau: “Năm 1990, ông Nguyễn Văn M khai phá 02 thửa đất tại ấp C, xã T, diện tích 21.479m² và 21.128m², loại đất lúa. Năm 2005, ông Trần Thanh N và năm 2007, bà Võ Thị Ngọc Ú nhận chuyển nhượng từ ông M 02 thửa đất trên. Ông N và bà Ú sản xuất ổn định cho đến nay” để hợp thức hóa nguồn gốc đất và làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng Trần Thanh N, bà Võ Thị Ngọc Ú. Bị cáo S hoàn chỉnh các thủ tục, trình cho bị cáo H4 ký duyệt và bị cáo H4 giao hồ sơ cho ông N đến đến Trung tâm Hành chính công huyện T nộp theo trình tự. Sau đó, đến ngày 01-10-2019 UBND huyện T, tỉnh Long An đã cấp các GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CS375012 đối với thửa đất số 44, tờ bản đồ số 9, diện tích 21.479m² cho bà Võ Thị Ngọc Ú đứng tên và ngày 03-10-2019 cấp giấy số CS375012, đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 9, diện tích 21.128m² cho ông Trần Thanh N đứng tên.
Mặc dù, đã được cấp GCNQSDĐ, nhưng vợ chồng ông N, bà Ú cũng chưa nhận đất và cũng không có nhu cầu canh tác đất, nên ông N nhờ các bị cáo S và H4 tìm người chuyển nhượng lại 02 thửa đất trên. Thông qua các ông Hồ Văn N2 và Lê Văn V, bị cáo H4 thỏa thuận bán cho bà Trần Thị Thu T5 tổng cộng
11 ha đất liền kề, trong đó có 02 thửa đất số 44, 73 nêu trên do vợ chồng ông N, bà Ú đứng tên với giá 400.000.000 đồng/ha, nhưng bị cáo H4 thông báo cho ông N biết giá bán chỉ là 300.000.000 đồng/ha. Đồng thời, bị cáo H4 yêu cầu phía bà T5 sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ thanh toán cho ông N 300.000.000 đồng/ha. Số tiền chênh lệch còn lại là 100.000.000 đồng/ha thì giao cho bị cáo H4.
Ngày 15-10-2019, tại Văn phòng Công N, bà Ú ký hợp đồng chuyển nhượng 02 thửa đất số 44, 73 với tổng diện tích 42.607m² cho bà T5. Bà T5 chỉ thanh toán cho vợ chồng ông N số tiền 1.278.000.000 đồng (300.000.000 đồng/ha). Số tiền chênh lệch 426.070.000 đồng, theo yêu cầu của bị cáo H4, bà T5 giao cho bị cáo S nhận thay về giao lại cho bị cáo H4 theo yêu cầu của bị cáo H4. Từ số tiền này, bị cáo H4 nhờ bị cáo S lấy ra 100.000.000 đồng đến trả nợ cho bà Võ Thị Ngọc Q giúp bị cáo H4 vào chiều ngày 15-10-2019, bà Q có viết “Biên nhận nhận tiền của bị cáo S” giao cho bị cáo S cất giữ. Còn lại 326.070.000 đồng, bị cáo S đưa lại bị cáo H4 vào sáng ngày 16-10-2019 tại phòng làm việc của bị cáo H4 tại UBND xã T. Việc giao nhận tiền không làm biên nhận, không người chứng kiến. H4 không thừa nhận chiếm đoạt số tiền này.
Về nguồn gốc của 02 thửa đất số 44 và 73 nêu trên, là của ông Phạm Phương N3 đã canh tác nhiều năm, đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ và được liệt kê trong danh sách các thửa đất đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ ông N3 đã liên hệ đến UBND xã T đề nghị làm thủ tục cấp giấy theo quy định nhưng chưa được thực hiện. Đồng thời, 02 thửa đất này nằm ở vị trí giáp ranh với các thửa đất của bị cáo H4 đang canh tác.
Tại Kết luận giám định số 522/2021/KLGĐ ngày 21-6-2021 của Phòng K2 Công an tỉnh, kết luận: Chữ ký mang tên Bùi Đăng S ở mục Công chức địa chính trên 02 tờ Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; ở mục Địa chính xã trên 02 tờ Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư; ở mục Người lập danh sách trên 02 tờ Danh sách công khai Hồ sơ đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSDĐ và 02 tờ Danh sách Người sử dụng đất đủ điều kiện đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSDĐ; ở mục Người lập biên bản trên 02 tờ Biên bản kết thúc công khai Hồ sơ đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSDĐ là do Bùi Đăng S ký ra.
Tại Kết luận Giám định Tư pháp ngày 20-3-2022 của Giám định viên tư pháp lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường, kết luận: Thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu, đất nông nghiệp đối với 02 thửa đất số 44, 73 tờ bản đồ số 9 cho bà Võ Thị Ngọc Ú và ông Trần Thanh N là chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ, quy định về thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp đã chuyển QSDĐ nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 54 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017) và Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ, quy định
về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
2. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của bà Hồ Thị L1:
Khoảng tháng 7-2019, bị cáo H4 đưa ông Nguyễn Văn S1 đi xem 11 ha đất ruộng, gồm: 11 thửa đất số: 74, 122, 502, 503, 504, 44, 73, 493, 70, 69, 118 có vị trí giáp đê P, thuộc ấp C, xã T, huyện T. H4 nói cho ông S1 biết các thửa đất này là của vợ chồng bị cáo H4, nhờ S1 giới thiệu người mua và sẽ bán với giá 400.000.000 đồng/ha. Sau đó, S1 đưa ông Hồ Phương L2 đi xem 11 ha đất nói trên và nói giá bán là 400.000.000 đồng/ha.
Ngày 09-9-2019, ông L2 đưa bà Hồ Thị L1 đi xem 11 ha đất trên, rồi đi đến một quán nước giải khát tại khu phố R, thị trấn T, huyện T để gặp bị cáo H4. Tại đây, bà L1 yêu cầu bị cáo H4 cho xem GCNQSDĐ của 11 ha đất mà H4 rao bán, H4 điện thoại nhờ ông Võ Minh L3 là nhân viên đang làm tại Văn phòng C1 photo giùm 09 GCNQSDĐ trong hồ sơ công chứng mà trước đây H4 công chứng thế chấp vay Ngân hàng và nhờ S1 đến Văn phòng công chứng gặp L3 lấy 09 GCNQSDĐ, H4 đưa cho bà L1 xem gồm 11 thửa số: 133, 349, 70, 162, 356, 139, 177, 68, 117, 134 và 102 cùng tờ bản đồ số 9, thuộc ấp C, xã T, huyện T do H4 và vợ là Trần Thị H1 đứng tên. Bà L1 tin H4 có đất bán thật, nên đồng ý mua với giá 400.000.000 đồng/ha. Bà L1 tin tưởng là đất thật, nên nhờ ông Phan Văn T6 viết “Hợp đồng mua bán 11 ha đất” mà bà L1 đã đi xem thực địa, nhưng trong hợp đồng ông T6 ghi số thửa đất theo 09 GCNQSDĐ photo mà H4 đưa bà L1 xem, rồi H4 ký tên bên bán, bà L1 ký tên bên mua, ông S1 ký tên người chứng kiến. Bà L1 giao tiền cọc cho H4 200.000.000 đồng. Sau đó, H4 tiếp tục nhận của bà L1 600.000.000 đồng tiền cọc. Tổng cộng, H4 nhận của bà L1 800.000.000 đồng tiền cọc, H4 cho S1 20.000.000 đồng tiền môi giới, còn lại H4 trả nợ và tiêu xài hết.
Đến hạn, H4 không thể làm thủ tục chuyển cho bà L1 như thỏa thuận được. Vì các thửa đất ghi trong hợp đồng đã thế chấp vay Ngân hàng và 05 trong 11 thửa đất H4 nhận cọc bán cho bà L1 là đất của người khác. Còn lại 05 thửa đất số 74, 122, 502, 503 và 504 vợ chồng H4 thỏa thuận chuyển nhượng cho Trần Thị Thu T5 vào ngày 04-9-2019 với giá 400.000.000 đồng/ha, bà T5 đặt cọc 1.100.000.000 đồng. Sau đó, bà T5 đến Ngân hàng nộp 1.050.000.000 đồng xóa thế chấp nhận GCNQSDĐ làm thủ tục sang tên. Hiện nay, 05 thửa đất này đã bị kê biên đảm bảo thi hành án, bà T5 đã nộp đơn khởi kiện bị cáo H4 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng.
Tại Kết luận giám định số 258 ngày 05-4-2020 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký và chữ viết Huỳnh Văn H ở mục Bên A trên tờ Hợp đồng về việc mua bán đất; ở mục Bên A và ở mục Người gia hạn trên tờ Hợp đồng về việc mua bán đất là do Huỳnh Văn H ký và viết ra.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Giả mạo trong công tác”;
2. Về hình phạt:
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 359; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 07 (Bảy) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”.
Áp dụng: Khoản 5 Điều 359 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cấm bị cáo Huỳnh Văn H đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến quản lý Nhà nước trong thời hạn 05 (Năm) năm sau khi chấp hành xong hình phạt.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Huỳnh Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 22 (Hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 08-3-2021.
Áp dụng: Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28-9-2023 để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về mức hình phạt đối với các bị cáo khác trong cùng vụ án, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội lừa đảo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, bị cáo đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bản án sơ thẩm là đúng người, đúng tội danh, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, mức hình phạt của bản án sơ thẩm là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo trình bày:
Thừa nhận về tội danh. Thực sự bị cáo không nhận số tiền 426.070.000 đồng của bà T5 mà án sơ thẩm đã quy kết.
Đối với số tiền bị cáo H3 và bị cáo N1 trả cho các bị hại là của bị cáo giao, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Luật sư bào chữa trình bày quan điểm:
Thống nhất về tội danh lừa đảo đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử thận trọng xem xét việc quy kết bị cáo chiếm đoạt 426.070.000 đồng của bà T5, bị cáo là người có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: thật thà khai báo, có quá trình cống hiến đối với nhà nước,... Mức hình phạt của cấp sơ thẩm là quá nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo sớm trở lại với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn H hợp lệ và trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án, trên cơ sở các tình tiết chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Văn H thể hiện như sau:
[2.1] Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại Trần Thanh N:
Bị cáo Huỳnh Văn H được bầu cử giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An, nhiệm kỳ năm 2016 – 2021 và tại nhà của bị cáo có kinh doanh vật tư nông nghiệp, nên phần nào đã tạo được lòng tin cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Năm 2019, xuất phát từ việc nợ tiền của nhiều người. Để có tiền trả nợ, bị cáo H lợi dụng lòng tin và sự kém hiểu biết của các bị cáo Nguyễn Văn T2, Trần Văn H3, Mai Tuấn K và Trần Văn N1 cùng người liên quan ông Phạm Văn H4 về việc đứng ra ký kết các hợp đồng bao tiêu lúa với ông Trần Thanh N để bị cáo H4 nhận hết tiền đặt cọc, sẽ chịu trách nhiệm khi cuối vụ không có lúa giao cho ông N và sẽ cho các bị cáo T2, H3, K và N1 mua ghi nợ tiền vật tư nông nghiệp trong vụ mùa. Trong khi đó, các bị cáo T2, H3, K và N1 chỉ đang canh tác lúa với diện tích đất rất ít so với diện tích ký kết trong hợp đồng. Qua đó, bị cáo H4 trực tiếp chiếm đoạt của ông N số tiền là 995.000.000 đồng, các bị cáo H3 và N1 mỗi người chiếm đoạt 100.000.000 đồng và bị cáo K 170.000.000 đồng và đều giao lại toàn bộ cho bị cáo H4. Đến cuối vụ mùa không có lúa giao cho ông N, bị cáo H4 đứng ra chịu trách nhiệm thỏa thuận trả lại toàn bộ số tiền cho ông N cùng tiền lãi suất, nhưng sau đó cũng không trả.
[2.2] Về hành vi giả mạo trong công tác của bị cáo Huỳnh Văn H:
Để xóa hết số tiền nhận cọc nêu trên với ông Trần Thanh N, bị cáo H thỏa thuận với ông N sẽ giao 02 thửa đất số 44 và 73, cùng tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại
ấp C, xã T, huyện T, có tổng diện tích 42.607m² cho ông N và làm thủ tục để cho ông N đứng tên GCNQSDĐ, ông N đồng ý. Bị cáo H với vai trò là Chủ tịch UBND xã T đã chỉ đạo bị cáo Bùi Đăng S là Công chức địa chính cấp dưới thuộc quyền quản lý, điều hành của bị cáo H làm các thủ tục tại cấp xã theo quy định của pháp luật về đất đai khi cấp GCNQSDĐ lần đầu. Hồ sơ cấp giấy đã làm giả về nguồn gốc, về chủ sử dụng đất do bị cáo H cung cấp thông tin không đúng sự thật; bị cáo S không thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ để kiểm tra lại các thông tin về nguồn gốc, diễn biến đất đai đối với các thửa đất như bị cáo H cung cấp có đúng không, mà tin tưởng điền vào hồ sơ cho đúng thủ tục, rồi được bị cáo H đại diện UBND xã T ký duyệt hồ sơ. Hồ sơ được chuyển đến UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông N, bà Ú đứng tên đất. Thực tế các thửa đất số 44 và 73 đang do các ông Phạm Phương N3, Đoàn Văn K1 và Đoàn Văn T7 (con ruột là Đoàn Văn Đ) trực tiếp quản lý sử dụng trước đó rất lâu. Nguồn gốc các thửa đất trên do ông N3 nhận chuyển nhượng và chuyển nhượng lại một phần cho ông K1 và ông T7, hơn nữa trên hồ sơ quản lý đất đai tại UBND xã T vẫn còn do ông N3 đứng tên, hàng năm bị cáo H có ký duyệt danh sách xác nhận. Bị cáo H cho rằng, 02 thửa đất số 44 và 73 do bị cáo nhận chuyển nhượng lại từ ông Nguyễn Văn M và ông M giao cho bị cáo giữ bản phô tô “Tờ chuyển nhượng đất” từ ông Phạm Phương N3 sang cho ông Nguyễn Văn M là không có căn cứ để chấp nhận.
Sau khi được cấp GCNQSDĐ, vợ chồng ông N, bà Ú cũng chưa nhận đất, nhưng không có nhu cầu sử dụng đất, nên nhờ bị cáo H và S tìm người chuyển nhượng đất. Bị cáo H biết rõ về nguồn gốc đất và việc vợ chồng ông N, bà Ú đứng tên là trái pháp luật, nhưng vẫn làm hợp đồng đặt cọc và nhận cọc để chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thu T5 cùng với các thửa đất còn lại của bị cáo H. Thông qua việc chuyển nhượng giữa vợ chồng ông N, bà Ú với bà T5 với giá trị 300.000.000 đồng/ha, bị cáo H đã chiếm đoạt của bà T5 số tiền 426.000.000 đồng tiền chênh lệch chuyển nhượng.
[2.3] Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại Hồ Thị L1:
Trong năm 2019 bị cáo H chỉ cho bà Hồ Thị L1 xem vị trí đất tại nơi khác so với đất bị cáo H đứng tên trong GCQSDĐ, đang thế chấp vay Ngân hàng và đã lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng cho bà T5. Nhưng bị cáo H vẫn lập hợp đồng đặt cọc, nhận tiền cọc và hứa sẽ làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật cho bà L1, làm bà L1 tin tưởng đặt cọc số tiền 800.000.000 đồng, bị cáo H đã chiếm đoạt.
[2.4] Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Văn H đối với bị hại ông Trần Thanh N, bị hại bà Hồ Thị L1 và bị hại bà Trần Thị Thu T5 đều là thể hiện sự gian dối, làm cho người bị hại tin tưởng giao tài sản để cho bị cáo H chiếm đoạt, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tương tự, hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Văn H là người có chức vụ, quyền hạn đã làm thủ tục giả tại cấp xã để chuyển hồ sơ đến UBND huyện T cấp
GCNQSDĐ như trên cho vợ chồng ông N, bà Ú là trái pháp luật, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác” cấp sơ thẩm xác định bị cáo H phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 359 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với tội danh này, bị cáo H không kháng cáo, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H và bị cáo S thực hiện hành vi giả mạo trong công tác để thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 4, Điều 174 BLHS). Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 359 Bộ luật hình sự, tuy nhiên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tại khoản 3, Điều 359 là không phù hợp, cần kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại nội dung này của bản án sơ thẩm.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn H đối với tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản “:
Xét, lời khai nhận của các bị cáo Huỳnh Văn H, Bùi Đăng S, Nguyễn Văn T2, Trần Văn H3, Mai Tuấn K và Trần Văn N1 tại phiên tòa có một phần phù hợp với nhau, phù hợp với: Lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra; lời khai của người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; các Kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ kết luận bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Giả mạo trong công tác”.
Bị cáo Huỳnh Văn H thừa nhận hành vi chiếm đoạt đối với tài sản của người bị hại Trần Thanh N và Hồ Thị L1.
Tuy nhiên, trong đơn kháng cáo bị cáo Huỳnh Văn H không thừa nhận chiếm đoạt của bà Trần Thị Thu T5 số tiền 426.070.000 đồng như bản án sơ thẩm đã nhận định, bị cáo không thừa nhận S đã đưa số tiền này cho bị cáo. Mặc dù, bị cáo H không thừa nhận, nhưng qua lời khai của bị cáo S, bà T5, ông N2 và ông V là những người môi giới và là người trả tiền nhận chuyển nhượng đất đều xác định trả số tiền trên cho bị cáo H thông qua bị cáo S nhận thay theo yêu cầu của bị cáo H. Từ số tiền này, bị cáo H nhờ bị cáo S lấy ra 100.000.000 đồng đến trả nợ cho bà Võ Thị Ngọc Q giúp bị cáo H vào chiều ngày 15-10-2019, bà Q có viết “Biên nhận nhận tiền của bị cáo S” giao cho bị cáo S cất giữ. Còn lại 326.070.000 đồng, bị cáo S đưa lại bị cáo H vào sáng ngày 16-10-2019 tại phòng làm việc của bị cáo H tại UBND xã T. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo H có nhận số tiền 426.070.000 đồng từ bà T5 là có căn cứ.
Trong đơn kháng cáo của bị cáo có đề cập đối với số tiền 96.000.000 đồng ông Trần Văn N1 trả cho ông N và số tiền 60.000.000 đồng ông Trần Văn H3 trả cho ông N là tiền của bị cáo H đưa để trả cho ông N, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo H trả lại cho ông N1 và ông H3 bị cáo không đồng ý. Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Trần Văn H3 và Trần Văn N1 đồng ý bồi thường số tiền đã trực tiếp chiếm đoạt của bị hại N mỗi người là 100.000.000 đồng là hoàn tự nguyện nên ghi nhận. Trong đó, bị cáo N1 đã bồi thường 96.102.000 đồng, bị cáo H3 đã bồi thường 60.000.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền tạm nộp để đảm bảo thi hành án gồm: Bị cáo H3 nộp theo
Biên lai thu số 0001038 ngày 22-9-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An; bị cáo N1 nộp số tiền 4.000.000 đồng theo Quyết định chuyển vật chứng số 298/QĐ-VKSLA-P1 ngày 17-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An và Ủy nhiệm chi ngày 18-8-2023 giữa: đơn vị trả tiền: Phòng Cảnh sát Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ Tư pháp – Công an L với đơn vị nhận tiền: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An. Bị cáo H cho rằng đây là tiền bị cáo đưa cho bị cáo H3 và bị cáo N1 để trả cho ông N nhưng không có gì chứng minh do đó nội dung này của án sơ thẩm là có căn cứ.
Các bị cáo H3 và N1 yêu cầu bị cáo H hoàn trả lại số tiền đã bồi thường là có căn cứ, nên được chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo H có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị cáo N1 số tiền 100.102.000 đồng và bị cáo H3 số tiền 100.000.000 đồng là phù hợp luật định. Kháng cáo của bị cáo H về các nội dung nêu trên không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần quyết định mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Huỳnh Văn H:
- Về tình tiết tăng nặng: Đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo H phạm tội trên hai lần, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quá trình điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn nhưng còn hạn chế, còn quanh co, chối tội một số hành vi; Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại Liệt số tiền 90.820.000 đồng và bị hại N số tiền 15.000.000 đồng, số tiền bồi thường rất nhỏ so với số tiền bị cáo chiếm đoạt, nên chỉ xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H có thành tích tốt trong công tác, hàng năm được tặng giấy khen; gia đình có người thân có công với đất nước; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cho bị cáo H, xử phạt bị cáo 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Huỳnh Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.
[6] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn H; giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Giả mạo trong công tác”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 359; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 07 (Bảy) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”.
Áp dụng: Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Huỳnh Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 22 (Hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 08-3-2021.
Áp dụng: Khoản 5 Điều 359 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cấm bị cáo Huỳnh Văn H đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến quản lý Nhà nước trong thời hạn 05 (Năm) năm sau khi chấp hành xong hình phạt.
3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 534/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 534/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
